Nhật Ký Công Nghệ Sinh Học

Hiển thị các bài đăng có nhãn y-hoc. Hiển thị tất cả bài đăng

Tóm lược: Một nghiên cứu gần đây đã tiết lộ rằng mỗi nơron cá nhân trong não bộ con người có thể độc nhất về mặt di truyền nhờ các đột bi...

Tóm lược: Một nghiên cứu gần đây đã tiết lộ rằng mỗi nơron cá nhân trong não bộ con người có thể độc nhất về mặt di truyền nhờ các đột biến xảy ra trên cơ sở từng tế bào (cell-by-cell basis). Hướng nghiên cứu này cung cấp những hiểu biết chi tiết về các yếu tố nguy cơ đối với chứng rối loạn thần kinh và tâm thần.

KHÔNG CÓ HAI NƠRON GIỐNG NHAU.

   Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về các căn nguyên di truyền của vấn đề rối loạn thần kinh, như chứng tự kỷ và tâm thần phân liệt, các nhà khoa học vẫn chưa xác định được một vài yếu tố nguy cơ - và những gene nguyên nhân gây trực tiếp (direct causal genes). Các gene nguy cơ đã được phát hiện thường chỉ liên kết lại với các phân nhóm của những người bị ảnh hưởng, chứ không phải với tất cả những người có rối loạn. Các nhà khoa học đã xác định rằng nếu một đột biến là nguồn gốc của rối loạn thần kinh, đột biến đó có thể sẽ khó theo dõi. Các đột biến chính mang tính chất di truyền và gây bệnh trực tiếp ít có khả năng lây truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Điều này đã khiến các nhà nghiên cứu tự hỏi: các yếu tố nguy cơ của rối loạn thần kinh xuất phát từ đâu?

   Các nhà khoa học đã khám phá ra, trái với nhận thức thông thường rằng tất cả các nơron trong một não đều giống nhau về mặt di truyền, não của mỗi người thực sự là nơi chứa nhiều bộ gen khác nhau. Đây được gọi là hình thái khảm soma (somatic mosaicism), và nó xảy ra bởi vì các tế bào soma, ví dụ như các nơron, là những vật chủ của một số nguồn đột biến tự phát. Sự phát hiện này thúc đẩy việc thành lập mạng lưới khảm Soma của não (The Brain Somatic Mosaicism Network- BSMN), một nhóm mà mục tiêu chính của họ là khám phá tính đa dạng với mục đích kết nối các đột biến khác nhau trong các nơron với các rối loạn thần kinh liên quan.
The Brain Somatic Mosaicism Network Via Science Magazine
ĐIỀU TRỊ BỆNH TÂM THẦN

Vào thời điểm này, khi các nhà nghiên cứu biết rằng mosaicism trở nên phổ biến, và có thể đã xảy ra hàng ngàn thay đổi trên mã di truyền trong neuron của con người. Lỗi trong quá trình sao chép DNA là yếu tố chính gây nên các đột biến soma, và các nơron ban đầu cuối cùng đã phân chia thành não người trưởng thành, phân chia hàng tỷ lần, vì vậy có rất nhiều cơ hội cho những lỗi nhỏ xảy ra trong quá trình sao chép - một nguyên do bất kì trong số đó có thể là yếu tố dẫn tới rối loạn thần kinh. Tế bào thần kinh trưởng thành sống tương đối lâu hơn các tế bào khác trong cơ thể, do đó những đột biến soma trong các nơron có nhiều khả năng hơn để tác động đến sức khoẻ. Trong quá khứ, các nhà nghiên cứu có thể chưa tìm ra nguồn gốc di truyền của bệnh tâm thần vì họ đang tìm kiếm ở nơi không đúng - tế bào mầm (germ cells). Thay vào đó, có khả năng DNA chịu trách nhiệm đối với những rối loạn thần kinh này chỉ nằm trong các tế bào thần kinh, trước đây không nhìn thấy được bằng cách giải trình tự và không thể phát hiện.

Các nhà nghiên cứu tin rằng việc tìm hiểu nhiều hơn về somatic mosaicism có thể là câu trả lời cho sự hiểu biết không chỉ về đa dạng thần kinh mà còn về sự đa dạng của con người nói chung. Bước quan trọng tiếp theo của BSMN sẽ là việc giải trình tự bộ gen của các neuron riêng lẻ. Nhóm nghiên cứu dự kiến sẽ có dữ liệu từ ít nhất 10.000 sequences vào năm 2020. Dự án này có thể mở ra các phương pháp điều trị mới - và thậm chí là chữa trị - cho các rối loạn thần kinh, nguyên nhân gây ra khoảng 12% số ca tử vong trên toàn thế giới. Đại học California, nhà thần kinh học San Diego Alysson Muotri, người không phải là thành viên của BSNM, đã chia sẻ với Scientific American, "Tôi rất hào hứng về dự án này - đây là khởi đầu của một điều hoàn toàn mới trong sinh học và thần kinh học."

Như Nguyện
Theo Scientific American và Futurism
 

Tại sao tế bào chống lại chúng ta Jacinta Bowler May 2017      Các nhà nghiên cứu vừa mới khám phá ra cách mà một số phần tử hóa học c...


Tại sao tế bào chống lại chúng ta
Jacinta Bowler May 2017  

   Các nhà nghiên cứu vừa mới khám phá ra cách mà một số phần tử hóa học có khả năng gây ra các bệnh tự miễn dịch, cho thấy bằng chứng cơ giới (bằng chứng có học) đầu tiên cho lý do tại sao chúng thực sự xuất hiện

   Bệnh tự miễn dịch là một vấn đề đối với hơn 50 triệu người Mỹ, và mặc dù chúng ta bắt đầu hiểu nhiều hơn về cách làm thế nào để giảm bớt triệu chứng, nhưng chúng ta vẫn chưa hiểu một cách đầy đủ những vấn đề cơ bản.

   Richard Kitching, một trong những nhà nghiên cứu ở đại học Monash, Australia (Úc) nói rằng: 'Chúng ta đã biết rằng trong các bệnh tự miễn dịch, có các tế bào T (T-cells) làm chúng ta dễ mắc bệnh và tế bào T cũng bảo vệ chúng ta khỏi bệnh tật.' 

   'Bây giờ chúng ta biết cơ chế này xảy ra như thế nào; nó mở đường cho những phương pháp điều trị mới và những phương pháp điều trị tập trung hướng tới mục tiêu là để chữa các bệnh đặc trị.

   Nghiên cứu mới vừa tìm thấy một tương tác quan trọng giữa 2 gen, sự tương tác này giúp tế bào T giao tiếp tín hiệu phòng vệ chính xác để ngăn chặn chúng tấn công cơ thể.  Hãy qua lại một chút, bởi vì một cách chính xác thì rối loạn chức năng tự miễn dịch của cơ thể là gì? Thông thường, hệ thống miễn dịch của chúng ta rất giỏi/ tinh thống nhắm vào/ về việc tấn công các kẻ xâm lược từ bên ngoài như vi-rút, vi khuẩn, vi sinh vật mà chúng không được phép ở trong cơ thể. Nhưng trong lúc rối loạn tự miễn dịch, hệ miễn dịch bắt đầu xem a phần của cơ thể như là kẻ ngoại xâm. Ở bệnh tiểu đường loại 1, các tế bào miễn dịch tiêu diệt tế bào sản sinh ra insulin và ở bệnh viên khớp dạng thấp, tế bào miễn dịch tấn công các khớp xương.

   Các nhà nghiên cứu đã khám phá ra hội chứng Goodpaster trong các mô chuột, một điều kiện hiếm gây ra bởi sự tấn công của hệ thống miễn dịch đối với màng nền của phổi và thận.

   Những nghiên cứu trước đây đã đưa ra rằng có một số loại protein (chất đạm) nhất định hay các phân tử hóa học trong cơ thể khiến bạn bị các bệnh tự miễn dịch (nhiều hay ít tùy thuộc vào loại phân tử cụ thể)

   Hệ thống kháng nguyên hay còn gọi là kháng thể của bạch huyết cầu (bạch cầu) của con người (trong tiếng Anh là the Human Leukocyte Antigen viết tắt là HLA) là một chuỗi các gen mà nó dịch mã cho những protein có chức năng giúp đỡ hệ miễn dịch. Vài phân tử HLA thì ở trên bề mặt của tế bào T (T cells) và sẽ phát ra vài tín hiệu để giúp để tế bào miễn dịch phát hiện và tiêu diệt những kẻ xâm lược cơ thể.

   Với nhiều năm thâm niên trong lĩnh vực này, nhà nghiên cứu Jamie Rossjohn từ Đại học Monash nói ‘Các phân tử miễn dịch, được gọi là phân tử hóa học HLA thì có liên đới với việc gia tăng rủi ro về mặt di truyền học (gen) để gây ra tính tự miễn dịch, những ngược lại vài phân từ HLA khác có thể bảo vệ cơ thể khỏi bệnh’.

   Ví dụ: vài dạng (kiểu) (hay gen đẳng vị, tiếng Anh gọi là alleles: một trong hai hoặc nhiều các mẫu có thể có của 1 gen, mà được tìm thấy ở cùng một nơi trên nhiễm sắc thể) của phân từ HLA, được gọi là DR15 cho thấy sự gia tăng nguy cơ mắc bệnh của hội chứng Goddpasture, bệnh đa xơ cứng (bệnh cảu hệ thần kinh gây ra tê liệt dần dần) và các điều kiện của tự miễn dịch khác.

   Thêm một vài phân tử có tên gọi là HLA-DR1 cũng liên kết với một số lượng điều kiện tử miễn dịch.

   Cho đến bây giờ, điều mà các nhà nghiên cứu đã không biết là cơ chế hoạt động của các phân tử này thực sự là gì, và tại sao cơ chế này lại gây ra sự gia tăng các bệnh tự miễn dịch.

   Các nhà nghiên cứu đưa những con chuột, mà chúng được gây giống trước đó rồi để thể hiện gen DR15 của người hoặc gen DR1 của người và phát hiện ra rằng chuột DR15 bắt đầu phát triển hội chứng Goodpasture, nhưng những con chuột chỉ có DR1 hoặc cả hai phân tử thì không.

   "Trong bệnh của Goodpasture, khi phân tử DR15 hiện diện, nó có thể lựa chọn và hướng dẫn các tế bào T tấn công cơ thể. Nếu một mình trong cơ thể, các tế bào gây tổn hại này có thể tấn công các mô của cơ thể, kết quả này là bệnh rất nặng", Kitching nói.

"Nhưng khi con người cũng có phân tử bảo vệ DR1 xuất hiện thì những tế bào T này sẽ bị giữ lại và có thể bị lật ngược."

Mặc dù cần có nhiều nghiên cứu cần thực hiện tiếp nữa, trước khi mà chúng ta thực sự có thể chú ý đến việc gia tăng các phân tử DR1 ở người, đó là một bước tiến quan trọng trong việc hiểu được cơ chế hoạt động như thế nào và tại sao hệ thống miễn dịch của chúng ta bắt đầu nhìn nhận cơ thể như là một mối đe dọa.

Điều thú vị đó là các nhà nghiên cứu hy vọng rằng những kết quả ban đầu này sẽ dẫn đến các kết quả rõ ràng cho bệnh nhân.

"Những tế bào bảo vệ miễn dịch đặc thù này đặc trưng và cực kỳ mạnh", Kitching nói.

Vì vậy, nếu chúng ta có thể khuyến khích những tế nào này phát triển trong cơ thể, hoặc mở rộng tế bào của người bên ngoài cơ thể và tiêm chúng vào những người có bệnh, điều này có thể dẫn đến kết quả điều trị tốt hơn và nhiều phép điều trị nhắm tới mục tiêu nhất định cho các bệnh tự miễn dịch. "

Đỗ Ngọc Minh
Nghiên cứu này đã được đăng trên tập chí Nature.

   Trò chơi trốn tìm Ước tính gần đây thực hiện bởi United Nations cho thấy có khoảng 36.7 triệu người trên toàn cầu được biết mang bệnh...



   Trò chơi trốn tìm Ước tính gần đây thực hiện bởi United Nations cho thấy có khoảng 36.7 triệu người trên toàn cầu được biết mang bệnh HIV, 1.2 triệu người trong số đó đang sống tại United States- theo Centers for Dieseas Control and Prevention ( CDC). Những con số báo động này thật sự tăng dần hằng năm, và liệu pháp hữu hiệu-vẫn chưa được tìm ra-có vẽ như đó là chặng đường dài phía trước. Một trong những nguyên nhân chính làm cho HIV được xem như một căn bệnh có gì đó như chiếc vỏ cứng khó phá vỡ: Virus có khả năng tự ẩn nấp trong các nhóm các tế bào miễn dịch đã nhiễm bệnh nhưng tạm thời chưa tạo ra HIV, khiến việc chữa trị vĩnh viễn rất khó để phát triển.

   Mặc dù vậy, vẫn có một tia hy vọng: Các nhà khoa học từ Khoa y học Lewis Ktaz trường Temple University ( LKSOM) và University of Pittsburgh đã công bố nghiên cứu trên tạp chí Journal Molecular Therapy cho thấy có khả năng phẫu thuật tách bỏ HIV DNA từ gien của động vật sống. Đó là lần đầu tiên có một cách được cho thấy là có khả năng, và có thể tăng cơ hội giảm việc lây nhiễm của HIV.

   Bí mật ở trong CRISPR/Cas9, công cụ chỉnh sửa gien hiệu quả và công dụng nhất thế giới, gien này giúp cho việc loại bỏ đoạn xác định HIV-1 trong gien của tế bào động vật bị nhiễm được trở thành hiện thực. “ CRISPR- associated protein 9 ( Cas9) – gien gián tiếp chỉnh sửa cho thấy phương pháp chữa trị HIV-1/AIDS trong tương lai”-theo tóm tắt trong trong nghiên cứu. Nghiên cứu này xây dựng khái niệm nền tảng cho nghiên cứu được thực hiện bởi cùng nhóm các nhà khoa học vào năm ngoái. “Nghiên cứu mới của chúng tôi toàn diện hơn” – Wenhui ( LKSOM). “ Chúng tôi đã củng cố lại các dữ liệu từ nghiên cứu trước và cải thiện hiệu quả của phương pháp chỉnh sửa gien”. Chúng tôi cũng chứng minh được phương pháp này hiệu quả trên 2 mô hình chuột thử nghiệm, một con mang chứng nhiễm cấp tính ở tế bào chuột, con khác nhiễm bệnh mãn tính từ tế bào người”.

Nghiên cứu và tiêu diệt

   Các nghiên cứu sinh sử dụng CRISPR/Cas9 để vô hiệu HIV trên 3 mô hình động vật: chuột chuyển gien với HIV-1, chuột nhiễm cấp tính tương đương với HIV của người ( ecoHIV) và nhóm chuột mang các tế bào miễn dịch tìm ẩn HIV-1 được cho vào các tế bào và cơ quan.

   Trong tất cả ba mô hình động vật, các nghiên cứu sinh đã có thể thành công phiên dịch phần HIV không hoạt động thông qua chỉnh sửa gien, giảm khả năng biểu hiện ở RNA virus đến 95% trong mô hình thứ nhất và 96% trong mô hình thứ 2. Ở mô hình thứ ba, họ đã có thể loại bỏ đoạn nhiễm tìm ẩn của người trong các cơ quan những con chuột sau một liệu trình CRISPR/Cas9.

   Giờ đây, các nghiên cứu sinh cần khiến liệu pháp này hữu hiệu trên người:” Giai đoạn tiếp theo sẽ lập lại nghiên cứu trên các loại linh trưởng, một mô hình động vật phù hợp hơn khi việc nhiễm HIV gây bệnh, để xác thực rõ hơn việc đẩy lùi HIV-1 DNA trong tế bào T-cell bị nhiễm tiềm ẩn, và những nơi bí ẩn khác của HIV-1, bao gồm tế bào não.” –Kamel Khalili. “ Mục đích cuối của chúng tôi là thử nghiệm lâm sàn trên các bệnh nhân”

   Do đây là lần đầu tiên việc chỉnh sửa gien được chứng minh có khả năng sử dụng trong HIV ở các động vật, phương pháp này có thể xem như một phương pháp thay đổi trong việc chữa trị virus khó nắm bắt: đây là một khởi đầu quan trọng, cuối cùng, tạo ra một liệu pháp.

Tuyen Duong
Theo Futurism

Tóm tắt: Trên Youtube, MinuteEarth giải thích lý do vì sao telomere đóng vai trò quan trọng trong quá trình lão hóa không chỉ ở người ...


Tóm tắt: Trên Youtube, MinuteEarth giải thích lý do vì sao telomere đóng vai trò quan trọng trong quá trình lão hóa không chỉ ở người mà còn ở các loài sinh vật có thể tồn tại mãi ở độ tuổi trung niên.

THÁCH THỨC TỪ CÁC TELOMERE

   Trong thời điểm, loài người không thể đạt được sự bất tử thì điều tốt nhất có lẽ là tìm ra cách làm chậm hoặc đảo ngược quá trình lão hóa. Và trong khi đã có một ngành công nghiệp hy sinh trọn vẹn vì “chống lão hóa” thì sự thật về sinh học là số phận của chúng ta được ghi lại bên trong DNA. Cụ thể, những những trình tự lặp lại của DNA ở các đầu mút của nhiễm sắc thể gọi là telomere.

   Các “mũ” này không duy trì các mã trong protein như gen. Do đó, sau mỗi lần nhân bản DNA, các telomere này lại ngắn đi một chút nhưng không làm mất đi các thông tin quan trọng. Ở người, cuối cùng, các telomere này sẽ quá ngắn và các mã DNA sẽ dần bị mất trong quá trình nhân bản, chính điều này sẽ làm một nút dây quan trọng trong quá trình tái tạo tế bào bị thiếu hụt. Và khi tế bào không còn tái tạo được ở tốc độ như trước thì chúng ta sẽ cảm thấy sự ảnh hưởng trên toàn bộ cơ thể. Chính lúc đó là thời điểm chúng ta bắt đầu già đi và hoạt động chậm lại.

   Ở một video trên YouTube, MinuteEarth đã giải thích vai trò của các telomere trong quá trình lão hóa trên nhiều loài và tại sao ở một số loài động vật, chẳng hạn như con chuột chũi thường không xuất hiện sự già đi. Mặc dù xuất hiện các nếp nhăn, chuột chũi thường tạo ra một loại enzyme đặc biệt để xây dựng lại các telomere và giữ cho chúng trẻ hơn hoặc ít nhất là duy trì chúng ở một độ tuổi trung niên không xác định.

TRẺ MÃI HAY Ở TUỔI TRUNG NIÊN ĐẾN CUỐI ĐỜI

   Chúng không thực sự chấm dứt sự lão hóa nhưng chuột chũi thường có thể sống lâu hơn ở tuổi trẻ. Tuy loài này có thể sở hữu khả năng độc nhất để thoát khỏi bệnh ung thư nhưng chúng không bất tử. Trong thực tế, các loài sinh vật càng sống lâu càng có nguy cơ bị các loài khác ăn thịt. Ở loài người, nếu có thể kéo dài sự sống tương tự với chuột chũi, chúng ta có thể không phải lo lắng sẽ bị ăn bởi một sinh vật lớn hơn. Nhưng khác với tuổi trung niên không tóc và nhăn nheo của chuột, chúng ta có thể trở thành nạn nhân của ung thư.

Huỳnh Thanh Thảo
Nguồn: Futurism, Youtube, Pubmed.

Tóm tắt: Một báo cáo mới đây của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia cho thấy cộng đồng khoa học đang bắt đầu thay đổi quan điểm của họ về vi...


Tóm tắt: Một báo cáo mới đây của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia cho thấy cộng đồng khoa học đang bắt đầu thay đổi quan điểm của họ về việc chỉnh sửa gene
Mối quan tâm lớn nhất của các chuyên gia là việc chỉnh sửa gene có thể sẽ được sử dụng để tạo ra những đứa trẻ theo ý muốn.

CHỈNH SỬA GENE

Kể từ khi cuộc tranh luận về những hậu quả đạo đức đằng sau CRISPR (Clustered Regularly Interspaced Short Palindromic Repeat) bắt đầu, lập trường của cộng đồng khoa học thường thận trọng hơn khi quyết định ủng hộ. Tuy các nhà nghiên cứu nhận ra được tiềm năng nhưng việc chỉnh sửa gene và những hệ lụy của nó đối với tương lai của nhân loại là quá lớn.

Nhưng mới đây, ở một báo cáo của Viện Khoa học Quốc gia (NAS) cho thấy cộng đồng khoa học đang bắt đầu thay đổi quan điểm của họ về vấn đề này. Đồng chủ tịch của Ủy ban nghiên cứu Alta Charo chỉ ra rằng:

Chỉnh sửa bộ gene của con người hứa hẹn rất nhiều cơ hội để mở rộng hiểu biết, cách điều trị hoặc ngăn ngừa sự hủy hoại của nhiều căn bệnh di truyền và ở cả nhiều bệnh khác. Tuy nhiên, chỉnh sửa bộ gen để nâng cao các đặc tính hoặc khả năng vượt quá mức sức khoẻ bình thường sẽ làm tăng mối quan tâm về nghi vấn liệu những lợi ích đem lại có thể vượt trội hơn những rủi ro và về tính bình đẳng nếu chỉ một số người được thay đổi bộ gene. Đồng chủ tịch Ủy ban và điều tra viên Viện Howard Hughes, ông Richard Hynes nói rằng: “Nghiên cứu chỉnh sửa gene là một nỗ lực quốc tế và tất cả các quốc gia cần đảm bảo rằng bất kỳ ứng dụng lâm sàng tiềm năng nào cũng phản ánh giá trị xã hội, phải chịu sự giám sát và điều chỉnh thích hợp”. Ngoài ra, giáo sư Daniel K. Ludwig chuyên nghiên cứu về ung thư tại Viện Công nghệ Massachusetts cũng cho rằng: "Những nguyên tắc tổng thể và những trách nhiệm xuất phát từ chúng phải được phản ánh trong cộng đồng khoa học của mỗi quốc gia và các quy trình pháp lý”.

NHỮNG RỦI RO VÀ VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC KHÓ XỬ

Mối quan tâm lớn nhất được đưa ra đối với việc chỉnh sửa gene dựa trên khả năng thực tế là nó sẽ được sử dụng để tạo ra các em bé theo ý muốn. Hiện nay, tất cả các nỗ lực tập trung vào việc sử dụng CRISPR để ngăn ngừa bệnh di truyền. Nhưng liệu ai có thể nói rằng những nguyên tắc tương tự sẽ không được áp dụng để xây dựng các đặc điểm như sức mạnh, vẻ đẹp hoặc trí tuệ.

Một số quan điểm cho rằng có nhiều rủi ro tiềm ẩn nếu áp dụng tiến bộ này như nếu chỉ có một số người có quyền tiến gần đến phương pháp này trong tương lai thì liệu nó có thể tạo ra sự chia rẽ xã hội giữa những đứa trẻ được tạo ra theo ý muốn và những đứa trẻ sinh ra một cách tự nhiên không? Và trong một số những trường hợp hiếm gặp, CRISPR chỉnh sửa DNA ở những vị trí ngoài dự định có thể gây hậu quả không lường trước được.

Tất nhiên rằng chúng ta vẫn còn khá lâu để tiến gần hơn với một đứa trẻ được tạo ra theo ý muốn. Vì ở thời điểm hiện tại, kỹ thuật chỉnh sửa gene vẫn đang được thử nghiệm trên động vật và sẽ phải tốn rất nhiều thời gian, nghiên cứu trước khi sẵn sàng áp dụng cho loài người. Nhưng đây không phải là lý do để nói rằng chúng ta không nên có một cuộc trò chuyện về những gì mà tiến bộ này sẽ đưa chúng ta đến.

Huỳnh Thanh Thảo
Nguồn: Futurism, Nytimes, NAS,Reuters

Tóm tắt: Trong một nghiên cứu mới đây ở Đại học Tufts, nhà nghiên cứu cho rằng gen có ảnh hưởng đến sở thích ăn uống của chúng ta. Chẳng...


Tóm tắt: Trong một nghiên cứu mới đây ở Đại học Tufts, nhà nghiên cứu cho rằng gen có ảnh hưởng đến sở thích ăn uống của chúng ta. Chẳng hạn như người ăn nhiều chocolate hơn, có kích thước vòng eo lớn hơn thì liên quan đến gen receptor oxytocin, và một gen liên quan đến béo phì đóng một vai trò quan trọng trong việc ăn rau và chất xơ. Họ cũng quan sát thấy rằng một số gen có liên quan đến lượng muối và chất béo nạp vào cơ thể.

   Silvia Berciano, nghiên cứu sinh sau tiến sĩ về gen và dinh dưỡng,  có trình bày tại Hội nghị Sinh học Thử nghiệm ở Chicago hôm thứ Bảy, tại Đại học Tufts cho biết: gen có thể thúc đẩy chúng ta lựa chọn một số loại thực phẩm, mà không phải lúc nào cũng tốt nhất cho sức khỏe.

“Hầu hết mọi người đều có một khoảng thời gian khó khăn trong việc điều chỉnh thói quen ăn uống của mình, ngay cả khi đó là mối bận tâm lớn nhất của họ”, cô nói. "Thay đổi hành vi và thói quen ăn uống có lẽ là một trong những điều khó nhất mà chúng ta yêu cầu ai đó làm."


Gen ảnh hưởng đến sở thích ăn uống: 
   Mặc dù các nghiên cứu trước đây đã xác định được gen có liên quan đến các chứng rối loạn ăn uống như biếng ăn hoặc bulimia, nhưng ít ai biết được  những gen này ảnh hưởng lớn đến hành vi ăn uống ở người khỏe mạnh. Sự biến đổi gen tạo ra sự khác biệt DNA giữa các cá nhân, khiến mỗi người trở nên đặc biệt.

   Trong phạm vi nghiên cứu mới này, các nhà khoa học đã phân tích di truyền dựa trên 818 đàn ông và phụ nữ gốc Âu: thu thập thông tin về chế độ ăn uống của họ bằng một bảng câu hỏi. Các nhà nghiên cứu cho rằng các gen đã đóng một vai trò quan trọng trong việc lựa chọn thực phẩm và thói quen ăn uống của mỗi người. Ví dụ như người ăn nhiều chocolate hơn, có kích thước vòng eo lớn hơn thì liên quan đến gen receptor oxytocin, và một gen liên quan đến béo phì đóng một vai trò quan trọng trong việc ăn rau và chất xơ. Họ cũng quan sát thấy rằng một số gen có liên quan đến lượng muối và chất béo nạp vào cơ thể.

   Những phát hiện mới này có thể được ứng dụng cho các phương pháp tiếp cận y học chính xác giúp giảm thiểu nguy cơ mắc các chứng bệnh thông thường như bệnh đái tháo đường,  tim mạch và ung thư bằng cách điều chỉnh các chế độ ăn uống và điều trị theo nhu cầu cụ thể của từng cá nhân.

   “Kết quả của nghiên cứu sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về hành vi ăn uống, do đó có thể  dễ dàng tư vấn chế độ ăn uống phù hợp cho từng cá nhân, như vậy sẽ dễ thành công hơn trong việc thay đổi thói quen ăn uống của mọi người”, Berciano cho biết thêm.

   Các nhà nghiên cứu tại Đại học Tufts sẽ mở rộng phạm vi nghiên cứu ở các nhóm người có đặc điểm và dân tộc khác nhau để hiểu rõ hơn về khả năng ứng dụng và tác động tiềm ẩn của những phát hiện này. Họ cũng muốn điều tra xem các biến thể di truyền đã được xác định là có liên quan đến thức ăn ảnh hưởng như thế nào nguy cơ gia tăng bệnh tật hay vấn đề sức khoẻ.

Theo Medicalxpress

   Vào thế kỷ thứ 19, nhiều nghiên cứu cho hay sự truyền máu chỉ thành công nếu được thực hiện ở những thành viên cùng chủng loại. Thêm v...


   Vào thế kỷ thứ 19, nhiều nghiên cứu cho hay sự truyền máu chỉ thành công nếu được thực hiện ở những thành viên cùng chủng loại. Thêm vào đó có những tiến bộ trong việc ngăn ngừa nhiễm trùng và đã giúp giảm thiểu đáng kể những rủi ro trong khi truyền máu. Tuy vậy, rủi ro vẫn còn rất nhiều.

Các loại Máu

   Vào năm 1900, bác sĩ người Áo tên là Karl Landsteiner (1868-1943) đang làm việc tại University of Vienna, tự cho mình có trách nhiệm tìm hiểu xem tại sao sự truyền máu lại thất bại.

   Karl pha một hỗn hợp gồm 30 nhóm máu của năm đồng nghiệp và của chính mình. Ông thấy rằng khi làm như vậy sẽ tạo ra sự kết tụ của các hồng huyết cầu. Nhưng có một điều đặc biệt là sự kết tụ này không xảy ra đối với mọi nhóm. Karl kết luận rằng kết tụ hay không là tùy thuộc vào sự hiện diện hay không của hai kháng nguyên nằm ở mặt ngoài hồng huyết cầu. Nhắc lại kháng nguyên là những yếu tố giúp cho cơ thể sản xuất ra kháng thể. Ông ta đặt tên là kháng nguyên A và B.

   Hai trong số các đồng nghiệp của ông có hồng cầu mang kháng nguyên A và hai kháng nguyên B. Khi máu của mỗi nhóm hòa lẫn thì chúng sẽ kết tụ lại với nhau. Khi máu của Karl và đồng nghiệp không dính lại với nhau khi được pha lẫn thì Karl quyết định rằng các tế bào máu đó không có kháng nguyên nào và gọi đó là máu nhóm O, có nghĩa là số không.
Nhà bác học Karl Landsteiner

   Karl gặp rất nhiều may mắn. Vì nghiên cứu của ông chỉ được thực hiện với một con số rất nhỏ cho nên về phương diện thống kê có thể là tất cả đều có máu cùng nhóm. Đặc biệt hơn nữa là về sau này người ta mới khám phá ra rằng các nhóm máu không phân chia đồng đều. Chẳng hạn như bên Anh, 46% dân chúng ở nhóm 0 và 9% có nhóm B.

   Thực vậy, mãi tới năm 1902, sau khi nghiên cứu thêm, Karl mới biết rằng mình đã bỏ sót một nhóm máu khác. Đó là các hồng huyết cầu AB với cả hai kháng nguyên. Cho tới khi đó có ít nhất 14 nhóm máu khác nhau được tìm ra. Đáng tiếc, những khám phá về A-B-O của Karl quá lớn mà vinh dự đến với ông quá trễ. Mãi tới năm 1930 Karl mới nhận được giải Nobel cho công việc quan trọng của mình về các nhóm máu.

   Sau đó Karl di cư từ Áo sang Hoa Kỳ và làm việc chuyên về nghiên cứu tại Rockefeller Institute for Medical Research tại New York. Cũng tại đây vào năm 1927 ông tìm ra group máu MN. Rồi tới năm 1936 ông xuất bản tác phẩm The Specificity of Serological Reaction để giúp thành hình khoa học về miễn dịch. Ông tiếp tục khám phá thêm về các vấn đề liên quan tới máu và đây là điều rất quan trọng, nhất là khi đó đang có World War II, khi mà nhu cầu về máu rất quan trọng đối với các chiến sĩ bị thương.

Các Rhesus Factor

   Vào năm 1939, hai khoa học gia Hoa kỳ là Philip Levine và Rufus Steton cho hay một trường hợp bất thường. Một thiếu phụ bị sẩy thai sau tám tháng có bầu. Vì xuất huyết quá nhiều, bà được truyền máu của người chồng có cùng nhóm O với mình. Bà bị phản ứng dữ dội mặc dù cả hai đều cùng nhóm như nhau. Theo các nhà khoa học trên, huyết thanh của người vợ đã làm cho hồng cầu của người chồng kết tụ với nhau. Khi họ hòa lẫn huyết thanh của bà vợ với hồng cầu của 104 người cho máu tất cả cùng group O thì 80 mẫu máu kết tụ với nhau.

   Các nhà khoa học này kết luận, hồng cầu của người vợ không có một kháng nguyên nào đó. Bà đã tạo ra kháng thể sau khi tiếp xúc với thai nhi. Thai nhi này lại thừa hưởng kháng nguyên của người cha. Khi vợ nhận được máu của chồng, kháng thể của vợ tấn công hồng huyết cầu của chồng và tạo ra một phản ứng khiến vợ suýt nữa mất mạng.

   Cùng khi đó thì Karl nghiên cứu sự truyền máu giữa những chú khỉ Indian Rhesus và thỏ và chuột lang. Ông ta thấy kháng nguyên Rhesus do những chú thỏ và chuột lang không những chỉ khiến cho hồng huyết cầu của khỉ kết tụ với nhau mà đồng thời cũng có phản ứng tương tự ở sáu trong số bảy người da trắng tại thành phố New York. Theo Karl, cả khỉ và đa số dân Nữu Ước đều có cùng loại kháng nguyên và ông ta gọi là những ‘Rhesus factor’. Như vậy, cả những chú khỉ và đa số dân Nữu Ước đều Rhesus dương (Rh +), còn máu những người không bị ảnh hưởng là ‘Rhesus Âm’ (Rh-). Nhiều nghiên cứu khác cho hay các kháng nguyên Rh có thể còn tìm thấy ở huyết thanh những người đã có phản ứng trầm trọng sau khi được truyền với loại máu coi như thích hợp.

   Tuy nhiên, sự khám phá này, dù quan trọng vì giúp sự truyền máu hầu như an toàn, cũng còn nhiều khó khăn cho sức khỏe thai nhi. Vào năm 1941, căn cứ vào những khám phá vĩ đại của Karl, hai nhà khoa học Levine và Steton thấy rằng phụ nữ đã bị sảy thai đều Rh- và người chồng đều Rh+. Ngoài ra, đa số sảy thai mà đã chết đều mang bệnh gọi là “loạn nguyên hồng cầu erythroblastosis foetalis.” Đây là bệnh thường xảy ra trong một số gia đình mà nguyên nhân chưa được biết. Các nhà nghiên cứu cho hay đây là một trong nhiều bệnh với cùng một nguyên nhân: Sự bất đồng về Rhesus giữa mẹ và thai nhi. Ngày nay, bệnh này còn được gọi là bệnh loãng máu của thai nhi. Với sự thành công của Karl, các bà mẹ đều được khuyên là nên đi thử về kháng nguyên rồi điều trị.

Nguyễn Y Đức

   Giá như rượu vang đỏ cũng tốt cho trí não giống như cho tâm hồn! Một nghiên cứu mới đã đưa ra ý kiến rằng điều này có thể đúng. Các n...



   Giá như rượu vang đỏ cũng tốt cho trí não giống như cho tâm hồn! Một nghiên cứu mới đã đưa ra ý kiến rằng điều này có thể đúng. Các nhà nghiên cứu từ viện nghiên cứu Virginia Tech Carilion tìm ra rằng resveratrol, một hợp chất hiện diện tự nhiên trong nhiều loại trái cây, ví dụ như trong trái nho dùng làm rượu vang đỏ, có thể giúp bảo vệ neuron thần kinh, ngăn ngừa não khỏi lão hoá và giữ cho não bộ trẻ trung hơn trong thời gian lâu hơn. Kết quả này càng bổ sung thêm những lợi ích sức khoẻ của rượu vang.

   Bài nghiên cứu, được đăng online trên The Journals of Gerontology, thấy rằng những con chuột được bổ sung resveratrol trong một năm có sự bảo tồn kết nối giữa các tế bào thần kinh tốt hơn những con không được bổ sung chất này. Kết quả là, những con chuột này có bộ não giống với những con nhỏ tuổi hơn. Sự trì hoãn quá trình lão hoá của não bộ này thể hiện rõ nhất ở các mối nối tế bào thần kinh, vốn có chức năng truyền gửi tín hiệu từ bộ não đến các cơ bắp.

   “Tôi tin rằng chúng ta đang tiến gần hơn đến việc khai thác các cơ chế để làm chậm lại chứng thoái hoá thần kinh do tuổi tác gây ra,” phát biểu bởi tác giả chính của nghiên cứu, trợ lý giáo sư, Gregorio Valdez, The Independent báo cáo.

   Viện nghiên cứu The Scripps ở Florida thấy rằng, điều khiến resveratrol đặc biệt là khi được tiêu thụ, nó bám vào các thụ thể estrogen mà không kích thích chúng tái sản xuất. Kết quả là, điều này tạo ra khả năng chống viêm nhiễm trong cơ thể, và khả năng này làm được mọi thứ, từ làm giảm nguy cơ bị bệnh tim đến giảm nồng đô cholesterol xấu, theo như The Scripps báo cáo. Hơn nữa là, nghiên cứu xa hơn cũng thấy rằng resveratrol có thể có khả năng giảm nguy cơ ung thư và tiểu đường.

   Rượu vang đỏ và vang trắng có resveratrol từ những trái nho được dùng để sản xuất chúng, nhưng nếu bạn không quan tâm về rượu, vẫn có những cách khác để kết hợp loại hợp chất bổ sung hữu ích này vào trong cơ thể của bạn. Harvard Health báo cáo rằng resveratrol cũng được tìm thấy trong đậu phộng, hạt hồ trăn, nho, rượu vang trắng và vang đỏ, việt quất, nam việt quất, ca cao và sô cô la đen.

   Những kết quả này thật đáng mong chờ, gợi về một tương lai mà chúng ta có thể bảo tồn bộ não và chức năng cơ bắp của chúng ta thật tốt khi bước vào tuổi già. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu nói với The Independent rằng, mặc dù resveratrol được tìm thấy trong rượu, chỉ uống mỗi rượu không thì không đủ để bạn nhận được hết lợi ích của resveratrol. Nếu bạn nghĩ rằng một chai rượu có thể thay thế một chế độ ăn uống lành mạnh, hãy nghĩ lại. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mặc dù resveratrol giúp bảo vệ não bộ khỏi lão hoá, sự bảo vệ này không tuyệt như khi áp dụng chế độ ăn kiêng hạn chế calo.

   “Trong rượu, lượng resveratrol là rất nhỏ, bạn không thể có được lợi tích như những con chuột uống resveratrol trong rượu vang,” Valde nói. “ Những nghiên cứu này được tiến hành ở chuột và tôi phải cảnh báo nếu có bất cứ ai tự nhồi nhét cơ thể mình với resveratrol dưới bất kì hình thức nào.”

Lê Thanh Hà
Dana Dovey, Medical Daily

Tóm tắt: Cây mía thuộc chi Saccharum, họ Andropogoneae. Mía có vô số tác dụng đối với sức khỏe con người như điều trị sỏi thận, chữa bệ...


Cây mía với 11 lợi ích cho sức khoẻ con người

Tóm tắt: Cây mía thuộc chi Saccharum, họ Andropogoneae. Mía có vô số tác dụng đối với sức khỏe con người như điều trị sỏi thận, chữa bệnh vàng da, chống nhiễm trùng, và phòng ngừa ung thư. Mía có nhiều ở vùng ôn đới ấm áp hoặc các vùng nhiệt đới Nam Á và được sử dụng để sản xuất đường. Thành phần chính của mía là sucrose, tích tụ trong các đoạn thân cây. Sucrose khi được chiết xuất và tinh chế trong các nhà máy chuyên dụng, được sử dụng làm nguyên liệu thô trong công nghiệp thực phẩm hoặc được lên men để sản xuất nhiên liệu ethanol.

Công dụng số 1: Mía đường trị bệnh vàng da

   Nước mía là một phương thuốc tự nhiên để chữa bệnh vàng da do sự có mặt của billirubin trong máu. Bệnh này xảy ra do chức năng gan giảm. Tuy nhiên, nước ép mía có thể khôi phục lại khả năng hoạt động của gan, uống nước mía ép có thể chữa bệnh vàng da.

Công dụng số 2:  Mía đường trị nhiễm trùng

   Một số bệnh nhiễm trùng như nhiễm trùng đường tiết niệu, bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, viêm dạ dày có thể chữa khỏi với một ly nước ép mía mỗi ngày.

Công dụng số 3: Mía đường trị sỏi thận

   Sỏi thận xảy ra do mất nước trong cơ thể. Vì vậy, để hydrat hóa cơ thể, bạn hãy cố gắng tiêu thụ nước ép mía một cách thường xuyên. Trong nước mía cũng có một số thành phần tự nhiên có thể phá vỡ sỏi thận.

Công dụng số 4: Mía đường tốt cho bệnh tiểu đường

   Người tiểu đường có thể ăn mía hoặc uống nước ép mía do trong loại cây này có chứa chất làm ngọt tự nhiên nên không gây nguy hiểm hoặc làm trầm trọng tình trạng bệnh.
11 công dụng tuyệt vời từ cây mía đường

Công dụng số 5: Mía đường giàu vitamins và khoáng chất

   Nước mía giàu vitamins và khoáng chất như phốt pho, sắt, kali, canxi và magiê. Ngoài ra, nghiên cứu cho thấy nước ép mía có thể giúp phục hồi sự thiếu hụt vitamin trong cơ thể do sốt cao.

Công dụng số 6: Trị cúm và cảm lạnh

   Nước ép mía làm dịu cổ họng của bạn, giúp chữa đau họng, khản giọng, mất tiếng, viêm khí phế quản ho đau rát họng, cảm lạnh và cúm.

Công dụng số 7: Có thể phòng ngừa ung thư

  Thêm vào đó, mía còn mang những lợi ích sức khoẻ cho vẻ đẹp và những người mắc bệnh ung thư. Một số lợi ích về sức khoẻ của cây mía đường như: Nhờ hàm lượng kiềm có trong mía, uống nước ép mía để ngăn ngừa ung thư, đặc biệt là ung thư ruột kết, ung thư phổi, và ung thư vú.

Công dụng số 8: Mía đường bù điện giải cho cơ thể 

  Mất nước vẫn là một bệnh đặc biệt hay gặp khi vào hè. Vì vậy để ngăn ngừa điều này, bạn có thể thường xuyên uống nước ép mía để hạ nhiệt cơ thể. Nhờ có các Carbonhydrate, nhiều acid amine, đặc biệt là nhiều acid amine cần thiết, mía đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung chất dinh dưỡng cho cơ thể. Ngoài ra, trong nước mía còn chứa vitamin B1, B2, B6, C, Các muối vô cơ như Can xi, Phospho, sắt… Theo y học cổ truyền, mía có vị ngọt tính mát nên có tác dụng thanh nhiệt sinh tân, giáng khí lợi niệu. Mía rất tốt cho các trường hợp thử nhiệt tổn thương tân dịch, tiểu ít tiểu dắt, nhiễm độc thai nghén nôn ói phù nề, mất nước khát nước, táo bón. Những bài thuốc dân gian từ mía dưới đây rất hiệu quả và tốt cho cơ thể bạn:

Công dụng số 9: Mía đường trị sốt khô họng, tiểu dắt

   Mía tươi róc vỏ, đẵn khúc ăn tùy ý, hoặc nước ép mía để mát uống. Dùng cho các trường hợp sốt khô họng, tiểu dắt.

   Trị trào ngược dạ dày thực quản:  Khi bị nôn ói ra thức ăn, dịch vị hoặc nóng rát thực quản do trào ngược dạ dày, kết hợp 30 – 50ml nước mía, với nước gừng tươi theo tỷ lệ 7/1. Uống nhấp từng ít một. Viêm họng cấp và mãn tính Củ cải trắng và mía rửa sạch, ép lấy nước, trộn theo tỷ lệ nước mía 10ml, nước củ cải 20ml pha thêm nước lọc lượng vừa để uống, ngày 3 lần, dùng liên tục 3-5 ngày. Bạn cũng có thể nấu mía, củ năng, rễ tranh, mỗi thứ một ít thành nước uống thay trà, dùng nhiều lần trong ngày.

Công dụng số 10: Còn có thể chống sâu răng

   Do có chứa hàm lượng khoáng chất cao, nước mía có công dụng phòng chống sâu răng và hạn chế tình trạng hôi miệng. Vì thế, sau khi ăn xong, bạn hãy tráng miệng bằng một khúc mía để vừa thơm miệng lại tránh được sâu răng.

Công dụng số 11: Ngoài ra còn tránh nôn do thai nghén

   Nước mía 1 ly, nước gừng tươi một ít, trộn lẫn để uống, ngày 1 lần.
   Với rất nhiều công dụng kể trên mía là loại thực phẩm tốt cho sức khỏe, tuy nhiên mía tính lạnh và hàm lượng đường rất cao nên những người tỳ vị hư yếu, hay đầy bụng đi lỏng không nên uống nước mía thường xuyên.

Theo Sức khoẻ và đời sống

TÓM TẮT: - Phụ nữ được điều trị bằng ABDV cho thấy có mật độ trứng gấp 2 – 4 lần phụ nữ khỏe mạnh không được điều trị bằng thuốc. - D...



TÓM TẮT:
- Phụ nữ được điều trị bằng ABDV cho thấy có mật độ trứng gấp 2 – 4 lần phụ nữ khỏe mạnh không được điều trị bằng thuốc.
- Do lượng mẫu thử nhỏ, nghiên cứu này không được kết luận, nhưng nghiên cứu về ABDV trong tương lai có thể thay đổi những gì chúng ta nghĩ rằng chúng ta biết về khả năng sinh sản của phụ nữ.

TÁC DỤNG PHỤ KHÔNG NGỜ TỚI

   Một nghiên cứu mới đang thách thức quan niệm từ lâu rằng phụ nữ sinh ra với một số lượng trứng nhất định và không thể hình thành được thêm trong quá trình sống. Nhà nghiên cứu Evelyn Telfer và một nhóm từ Đại học Edinburgh nhận thấy rằng các bệnh nhân ung thư dùng thuốc hóa trị liệu có tên là ABVD không gặp vấn đề về khả năng sinh sản như những bệnh nhân dùng các loại thuốc khác. Họ quyết định dành riêng nghiên cứu cho sự ảnh hưởng của thuốc đối với khả năng sinh sản bằng cách làm sinh thiết buồng trứng của 11 phụ nữ bị u lympho Hodgkin (ung thư bạch huyết) và 10 phụ nữ khỏe mạnh. Trong số 11 người phụ nữ bị ung thư, có tám người đã được điều trị bằng ABVD, và ba người được cho một loại thuốc kết hợp mạnh hơn có khả năng gây ra vô sinh.

   Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng những phụ nữ điều trị bằng ABDV có tỷ lệ trứng có khả năng sinh sản ở buồng trứng cao hơn từ hai đến bốn lần so với những phụ nữ khoẻ mạnh, trong khi những phụ nữ được điều trị bằng một loại thuốc kết hợp mạnh hơn thì ít hơn. "Đây là điều đáng chú ý và hoàn toàn bất ngờ đối với chúng tôi. Các mô [buồng trứng] dường như đã hình thành trứng mới," Telfer ghi chú trong một báo cáo từ The Guardian. Bà đã báo cáo rằng những quả trứng của những bệnh nhân được điều trị bằng ABVD cũng xuất hiện "trẻ hơn", giống như những quả trứng được thấy ở trẻ trước tuổi dậy thì so với những con ở người trưởng thành.

NHIỀU CÂU HỎI HƠN LÀ CÂU TRẢ LỜI

   Nghiên cứu của Telfer cho thấy rằng ABDV thực sự có thể kích thích buồng trứng của phụ nữ phát triển trứng mới, nhưng cô và các đồng nghiệp của cô nhanh chóng thêm rằng họ vẫn còn một chặng đường dài để hiểu rõ hơn về quá trình nghiên cứu.

   "Có rất nhiều điều chúng ta không biết về buồng trứng," cô nói. "Chúng ta phải thận trọng khi nhảy vào các ứng dụng lâm sàng."

    Các giải thích có tiềm năng khác tồn tại đối với sự gia tăng mật độ của trứng có khả năng sinh sản. Các trứng được thêm vào có thể ở trong buồng trứng toàn bộ thời gian, nhưng phương pháp tạo ra chúng làm tăng diện tích bề mặt. ABDV cũng có thể làm cho các nang trứng có sẵn bị chia làm đôi, dường như tăng gấp đôi số lượng trứng.

   Nếu ABDV được xác nhận là tạo ra trứng mới và có khả năng sinh sản, tuy nhiên, khám phá này sẽ thay đổi rất nhiều điều mà chúng ta nghĩ rằng chúng ta biết về khả năng sinh sản của phụ nữ. Cho đến bây giờ, số lượng trứng có khả năng sinh sản có hạn là hạn chế chính đối với tuổi thọ sinh sản của phụ nữ và lý do phụ nữ được cho là có một "đồng hồ sinh học". Nó có thể dẫn đến việc khám phá ra cách điều trị các vấn đề vô sinh ở phụ nữ trẻ hoặc thậm chí là cách cho phụ nữ lớn tuổi, sau mãn kinh có con.

   Những khám phá mới như những phát hiện trong nghiên cứu của Tefler là những lời nhắc nhở liên tục về sự hiểu biết về sinh học con người và “sự hiểu biết” hạn hẹp của chúng ta là không thay đổi.

Lê Cao Ý Nhi
Theo Jess Vilvestre, Futurism

Tóm lược:  Các nhà nghiên cứu đã sử dụng CRISPR để nhắm vào mục tiêu "trung tâm chỉ huy" ung thư ở chuột, tăng tỷ lệ sống sót...

KỸ THUẬT CRISPR MỚI NHẮM VÀO VÀ TIÊU DIỆT TRUNG TÂM CHỈ HUY UNG THƯ

Tóm lược:  Các nhà nghiên cứu đã sử dụng CRISPR để nhắm vào mục tiêu "trung tâm chỉ huy" ung thư ở chuột, tăng tỷ lệ sống sót từ 0% đến 100% và giảm khối u ác tính mà không gây tổn hại cho các tế bào khỏe mạnh. 
Tiếp theo, các nhà khoa học sẽ kiểm tra xem nó có thể quét sạch hoàn toàn tế bào ung thư ra không.

ĐIỀU KIỆN CRISPR

   Những tháng gần đây đã có không ít những điều đáng kinh ngạc về công cụ chỉnh sửa gen CRISPR. Vào tháng 9 năm 2016, các nhà nghiên cứu Đức đã phát hiện ra một cách sử dụng CRISPR để khắc phục những đột biến gây ung thư. Vào tháng 11, các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã sử dụng công nghệ CRISPR lần đầu tiên trên một con người. Sau đó, vào tháng Giêng năm sau, các nhà nghiên cứu phát hiện ra hai loại protein khác nhau chống lại CRISPR, có thể dẫn đến việc “chuyển đổi” CRISPR và kiểm soát tốt hơn công cụ chỉnh sửa gen trên các đối tượng người.

   Hiện nay, các nhà nghiên cứu từ Đại học Pittsburgh đã sử dụng CRISPR để chỉ ra "trung tâm chỉ huy" của ung thư, tăng tỷ lệ sống sót và giảm khối u ác tính mà không gây tổn hại đến tế bào khỏe mạnh ở chuột. Phương pháp này nhằm vào các gen hợp nhất, các đột biến phát triển khi hai gen khác biệt kết hợp thành một gen lai duy nhất - mà thường dẫn đến ung thư. Họ công bố kết quả của họ ở tờ Nature Biotechnology vào đầu tuần này.

   Nhóm nghiên cứu đã cấy tế bào ung thư gan và tuyến tiền liệt của con người vào chuột và sau đó sử dụng công cụ CRISPR nhắm mục tiêu đến gen hợp nhất để điều trị chúng. Việc điều trị của nhóm đối chứng đã nhắm đến các gen lai không có trong cơ thể của chúng - làm cho nó không hiệu quả. Khối u ở chuột đối chứng tăng gần 40 lần và lan rộng ra các phần khác của cơ thể trong hầu hết các trường hợp. Không một nhóm kiểm soát nào sống sót qua giai đoạn thử nghiệm. Việc điều trị cho nhóm thực nghiệm có mục tiêu gen hợp nhất có trong khối u của chúng, và các khối u bị co lại đến 30 % và không lan rộng. Điều ấn tượng nhất là tất cả các con vật được điều trị thử nghiệm đều sống sót sau khi kết thúc thử nghiệm - đại diện cho sự gia tăng tỷ lệ sống sót từ 0% đến 100%.

THUYÊN GIẢM – HOẶC TIÊU DIỆT?

   Sự thật là các gen hợp nhất này là độc nhất về di truyền làm cho chúng trở thành một mục tiêu dễ dàng cho CRISPR, có thể nhắm mục tiêu vào chúng và thay thế chúng bằng một cái gì đó khác. Trong trường hợp này, các nhà nghiên cứu thay thế chúng bằng các gen giết chết tế bào ung thư, đảm bảo các tế bào khỏe mạnh vẫn sống tốt - mà một phương pháp hóa trị nào đó không thể làm được. Mặc dù những kết quả ấn tượng này rất thú vị, nhưng chúng không có nghĩa là việc điều trị sẽ có hiệu quả ở người và vẫn chưa có kế hoạch thử nghiệm lâm sang nào. Trước khi việc điều trị được thực hiện trên người, các nhà nghiên cứu hy vọng sẽ cải thiện nó. Mặc dù nghiên cứu hiện tại chứng minh rằng kỹ thuật này có thể làm thuyên giảm các tế bào ung thư, nhưng các nhà khoa học vẫn muốn kiểm tra xem nó có thể loại bỏ hoàn toàn ung thư ra không.

   Jian-Hua Luo, tác giả chính của nghiên cứu, cho biết: "Đây là lần đầu tiên việc chỉnh sửa gen được sử dụng để xác định cụ thể các gen hợp nhất của ung thư. "Nó thực sự thú vị bởi vì nó đặt nền móng cho những gì có thể trở thành một cách tiếp cận hoàn toàn mới để điều trị ung thư. Các loại điều trị ung thư khác nhắm vào những người lính bộ binh. Cách tiếp cận của chúng tôi là nhắm mục tiêu trung tâm chỉ huy, do đó không có cơ hội để quân đội của đối phương tập trung lại trong trận chiến trở lại. "

Hiếu Minh
Theo New Atlas, Nature Biotechnology, University of Pittsburgh

Tóm tắt: Các bác sĩ tại Bệnh viện Nhi đồng Philadelphia đã làm việc với những con cừu 23 tuần để kiểm tra một thiết bị tổng hợp bắt chướ...

Tử cung nhân tạo: Cho phép cừu non phát triển bình thường, sẽ ứng dụng trên người

Tóm tắt: Các bác sĩ tại Bệnh viện Nhi đồng Philadelphia đã làm việc với những con cừu 23 tuần để kiểm tra một thiết bị tổng hợp bắt chước tử cung của phụ nữ, hy vọng hạn chế tử vong và bệnh tật ở trẻ sinh non sinh ra trước 37 tuần.

TỬ CUNG NHÂN TAỌ

   Tạo ra một tử cung nhân tạo sẽ là một kỳ công, vì sinh non là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu cho trẻ sơ sinh. Và tuần này, các bác sĩ tại Philadelphia đã có những bước tiến quan trọng hướng đến một thế giới nơi mà tử cung tổng hợp trở thành hiện thực. Trong khi nghiên cứu đang được phát triển tạo nên không hoàn toàn là một cái tử cung nhân tạo, các bác sĩ đã tạo ra một "biobag" tử cung có khả năng nuôi con non rất sớm ngay sau khi chúng bắt đầu phát triển.

   Trước khi chờ đợi quá lâu, các công nghệ tương tự có thể được sử dụng trên người. Cuối cùng, những con cừu được đặt trong các biobags trong suốt 105 ngày sau khi chúng bắt đầu phát triển, tương đương với khoảng 22 tuần phát triển con người. Vào thời điểm đó trong sự phát triển của chúng, không phải con cừu hay trẻ sơ sinh nào cũng có thể sống sót ngoài tử cung một mình.

   Các con cừu được giữ trong các biobags trong bốn tuần. Trong thời gian này, chúng đã phát triển tóc; phổi; Và chúng đã đạt đến điểm mà chúng có thể sống sót một mình. Đáng chú ý, tám con cừu trong thử nghiệm phát triển bình thường trong tử cung nhân tạo và đều sống sót, điều đó cho thấy rằng biobags đã mô phỏng thành công các điều kiện tự nhiên tìm thấy trong tử cung và mở đường cho một thiết bị cứu sinh mới cho con người.

Các kết quả nghiên cứu của họ đã được công bố trong tạp chí Nature Communications.

MỘT CUỘC CÁCH MẠNG VỀ SINH NỞ

   Cuối cùng, trẻ sơ sinh được coi là trẻ sinh non khi sinh trước 37 tuần phát triển. Trên toàn cầu, hàng triệu trẻ sơ sinh sinh non mỗi năm. Điều này đưa chúng đến một loạt các bệnh mãn tính, vì phổi và não của chúng vẫn đang trong giai đoạn phát triển rất sớm.

   Mặc dù các liệu pháp hiện tại được tiến hành là ủ dưỡng trẻ sinh non, thiết bị mới này có thể làm tốt hơn bằng cách cho phép chúng hoàn thành sự phát triển trong điều kiện tự nhiên. Mặc dù bao sinh học không thể phát triển được một đứa trẻ trong suốt chín tháng, nhưng nó có thể cho phép chúng ta ủ ấm chúng ngay sau khi thụ thai. Nhóm bác sĩ đã thảo luận với Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) và các thử nghiệm lâm sàng dự kiến sẽ bắt đầu trong 3 đến 5 năm tới.
Tử cung nhân tạo

   Theo tiến trình này, các chuyên gia khẳng định rằng tử cung nhân tạo có thể đưa vào hiện thực trong vài thập kỷ tới.

Hoài Thu
Theo MIT Technology Review, Nature, March Of Dimes và Futurism

Image credit: CNS Tóm tắt: Trong một thí nghiệm gây sốc, các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã ghép đầu một con chuột nhỏ vào một con chuột...

Image credit: CNS
Tóm tắt: Trong một thí nghiệm gây sốc, các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã ghép đầu một con chuột nhỏ vào một con chuột khác lớn hơn trong khi giữ cho não an toàn khỏi những tổn thương có thể xảy ra do mất máu. Một ngày nào đó kỹ thuật của họ có thể hữu ích cho việc cấy ghép người. Không tổn thương não do mất máu

   Không phải là ngày nào bạn cũng nghe về việc cấy ghép một cái - đầu - sống, nhưng thật sự có một điều như vậy. Trên thực tế, nghiên cứu về những cấy ghép đầu đã được tiến hành trong một khoảng thời gian, với những thí nghiệm động - vật – hai - đầu đầu tiên được biết đến từ những năm 1900 và những năm 1950.

   Bây giờ, các nhà khoa học từ Trung Quốc đã có một bước đột phá đáng chú ý trong việc cấy ghép đầu của một cá thể vào một cá thể khác.

   Đối với công việc này, họ lấy đầu của một con chuột nhỏ và gắn nó vào một con chuột lớn hơn, tạo ra một con - chuột – hai – đầu. Điều quan trọng cần lưu ý là chuột đã không sống được lâu. Nhóm nghiên cứu biết con chuột không sống lâu, vì vẫn còn rất nhiều vấn đề kỹ thuật và khoa học cần được giải quyết trước khi chúng ta có thể thực hiện thành công việc cấy ghép các sinh vật sống và giúp chúng sống.

   Tuy nhiên, đây là một bước tiến đáng kinh ngạc trong việc thực hiện cấy ghép đầu có thể giúp bác sĩ tránh bất kỳ tổn thương não do mất máu trong quá trình gắn đầu của người hiến tặng. Mục đích của thử nghiệm đặc biệt này đơn giản là: các nhà khoa học muốn biết liệu họ có thể ghép đầu thành công mà không làm tổn thương não do mất máu quá nhiều hay không. Và họ đã làm. Để làm được điều này, họ phải giữ cho máu lưu thông trong quá trình cấy ghép bằng cách gắn các mạch máu của con chuột cho đầu vào con chuột kia.

   "Chúng tôi đã phát triển mô hình hai đầu của việc cấy ghép đầu để nghiên cứu những khía cạnh này", các nhà khoa học cho biết trong bài báo đăng trên tạp chí CNS Neuroscience and Therapeutics.

Một cái đầu có thể xoay được.

   Ý tưởng này là có thể tạo ra cái đầu có thể xoay được - và có thể lắc qua lắc lại được, đối với một số nhà khoa học khẳng định rằng việc cấy ghép đầu rất đáng để khám phá, vì nó có thể giúp hàng triệu người trên toàn thế giới đang bị các vấn đề về cơ và thần kinh. Nó cũng có thể cho phép chúng ta lấy đầu một người bị ung thư tử vong và cấy ghép nó vào một cơ thể khỏe mạnh của con người.

   Có thể hiểu được, có một số vấn đề cần được giải quyết trước khi có thể cấy ghép đầu người. Ví dụ, ngoài việc đảm bảo não không bị tổn thương do mất máu trong quá trình cấy ghép, có một số mối quan tâm khác, chẳng hạn như sự từ chối bởi hệ thống miễn dịch.

Kết quả từ thí nghiệm cấy ghép

   Dù vậy, ghép đầu vào người khác trong khi giữ cho não an toàn khỏi những tổn thương liên quan đến mất máu chắc chắn là một bước tiến tích cực cho việc phát triển các phương tiện hữu hiệu để tiến hành cấy ghép đầu người.

   Tuy nhiên, một số chuyên gia khẳng định rằng các vấn đề liên quan đến cấy ghép đầu người vượt ra ngoài những mối quan tâm của khoa học - kỹ thuật và liên quan đến bản chất tâm lý cơ bản của con người.

   Arthur Caplan, giám đốc sáng lập Phòng Y đức của NYULMC (New York University Langone Medical Center), trước đây nói với Futurism rất rõ rằng, với phương thức như vậy, một người có thể bị ảnh hưởng chưa từng thấy của chứng điên cuồng.

   Trong khi một số tuyên bố đã thực hiện thành công phương thức này, thì không có bằng chứng rõ ràng để hỗ trợ các tuyên bố đó.

   Trong bất kỳ trường hợp nào, nếu chúng ta thành công một quy trình như vậy ở tương lai, hầu hết nghiên cứu hiện tại sẽ cung cấp một phần quan trọng của câu đố này. Như lưu ý trong bài tóm tắt của các nhà nghiên cứu, "Việc áp dụng ghép mạch cũng có thể cung cấp khả năng sống sót lâu dài cho mô hình này."

Trâm Anh
Theo Motherboard, CNS Neuroscience and Therapeutics, Futurism

Tóm tắt: Các nhà nghiên cứu ở Anh đang chờ phê duyệt cho một đề xuất nghiên cứu gây trên cãi đó là “biến đổi phôi di truyền ở người”. C...

Phôi chỉnh sửa di truyền sắp được thực hiện ở Anh

Tóm tắt: Các nhà nghiên cứu ở Anh đang chờ phê duyệt cho một đề xuất nghiên cứu gây trên cãi đó là “biến đổi phôi di truyền ở người”. Các bước đầu tiên của nghiên cứu mới:

   Một nhóm nhà nghiên cứu ở Anh đang sẵn sàng tạo ra phôi người biến đổi gen đầu tiên của Quốc gia họ. Cùng chung chí hướng trên con đường nghiên cứu của họ là một cơ quan quản lý độc lập được gọi là Cơ quan Chế tạo Sinh học Con người (HFEA).

   Kathy Niakan, lãnh đạo của nhóm nghiên cứu ở Viện Francis Crick tại London, đang tìm cách nghiên cứu các giai đoạn đầu tiên của sự phát triển phôi thai. Hiện tại, cộng đồng khoa học chỉ hiểu được rất ít về lý do tại sao một số người mang thai rất nhiều lần và sinh con thành công còn ở một số người khác lại bị sẩy thai.

   Theo như luật pháp ở Anh, việc biến đổi gen của phôi người và nó sống lâu hơn hai tuần hoặc cấy vào tử cung là bất hợp pháp. Đáng chú ý, các nhà nghiên cứu luôn tìm kiếm sự cho phép của hoạt động này trong phạm vi pháp lý này, họ cho biết sẽ không để phôi phát triển hơn bảy ngày.

   Điều này nói lên rằng, nghiên cứu này là bước đầu tiên đáng chú ý trong sự biến đổi di truyền của con người, là công trình có thể được sử dụng để cải thiện nhân loại.

   Nếu đề xuất của họ được chấp thuận, họ có thể sử dụng phôi thừa từ các phương pháp điều trị IVF, miễn là cha mẹ của phôi cho phép. Các nhà nghiên cứu sẽ sử dụng CRISPR, một công nghệ chỉnh sửa gen phức tạp để loại bỏ tối đa bốn gen khác nhau trong phôi.

   Các theo dõi tiếp theo của nghiên cứu có thể cho chúng ta biết những điều quan trọng của con người vào giai đoạn phát triển đầu tiên.

Đây là một video hữu ích cho biết CRISPR hoạt động như thế nào:

Tại sao có những điều lệ này:

   Niakan nói trong một bài báo của The Guardian: “Những tình huống dị tật và vô sinh ở người là những điều rất phổ biến nhưng vẫn chưa ai biết được chính xác tại sao. Bạn sẽ không bao giờ có thể dự đoán được nghiên cứu sẽ dẫn chúng ta đến đâu nhưng chúng tôi hy vọng nó sẽ là một nghiên cứu có ích cho các phương pháp điều trị cho vấn đề sinh sản trong thời gian tới”.

   Mặc dù quá trình này sẽ liên quan đến việc chỉnh sửa bộ gen của phôi, nhưng các nhà nghiên cứu sẽ không công bố bất cứ tài liệu di truyền mới nào. Điều này có nghĩa là những nỗi sợ hãi về việc chế tạo em bé siêu nhân, hoặc người lai điều sẽ không được tìm thấy trong nghiên cứu này, ít nhất là liên quan đến đề xuất cụ thể này. Tuy nhiên, nhiều người lo sợ rằng những hình thức tương đối khiêm tốn này của gen giả mạo con người khiến chúng ta rơi vào tình trạng nguy hiểm mất cân bằng. Các nhà khoa học đã nghiêm túc cảnh báo về việc biến đổi gen bất kỳ nào mang đặc tính di truyền của con người.

   Một số người dường như đã nhìn thấy những điều gì đó bất chính trong công việc của Niakan và nhóm của cô. David King, giám đốc của Human Genetics Alert tại The Independent, cho biết: “Đây là bước đầu tiên trên con đường mà các nhà khoa học đã vạch ra một cách cẩn thận về việc hợp pháp hóa các con GM. Mặc dù chúng tôi luôn nói rằng HFEA luôn ở đó để đảm bảo rằng không có điều gì vượt qua các đường lối đạo đức, nhưng thực tế, HFEA tồn tại chính là để quản lý và tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi phôi này cùng tiến độ tiến hành nghiên cứu”. Nhưng đối với những người thay mặt đấu tranh cho người vô sinh, nghiên cứu phôi thai này sẽ mở ra con đường mang đầy kì tích trong cuộc sống.

   Như Sarah Norcross ở Progress Educational Trust quan sát, “Đây là một phần quan trọng của nghiên cứu khoa học cơ bản. Sẩy thai liên tục ảnh hưởng đến số lượng lớn người dân và điều đó không phải ai cũng hiểu. Mọi người chỉ cần nói và thử lại. Để nâng cao hiểu biết của chúng ta về vấn đề biến đổi di truyền của phôi thai có ảnh hưởng thế nào với con người, để thấy được đây là một nghiên cứu có giá trị của loài người”. Nếu đề xuất của nhóm nghiên cứu được HFEA chấp thuận, một ủy ban đạo đức riêng biệt cũng sẽ phải kí kết. Giả sử đề xuất này được đánh giá là ánh sáng xanh thì Niakan và đội của cô sẽ là nhóm thứ hai trong lịch sử biến đổi gen đối với phôi thai ở người.

Huyền Trang
Chia sẻ từ trang Futurism

Tóm tắt: Các nhà nghiên cứu tin rằng aspirin có thể ngăn chặn các khối u ung thư lan truyền khắp cơ thể. Nhưng tiếc rằng, aspirin có t...

Một loại thuốc phổ biến có thể ngăn ngừa sự lây lan của các tế bào ưng thư

Tóm tắt: Các nhà nghiên cứu tin rằng aspirin có thể ngăn chặn các khối u ung thư lan truyền khắp cơ thể. Nhưng tiếc rằng, aspirin có thể gây ra những phản ứng phụ nghiêm trọng ở một số bệnh nhân và hiện tại không có cách nào để xác định được những nguyên nhân gây nên phản ứng phụ ấy.

Một loại vũ khí mới

   Giữa những phương pháp như tái tạo tế bào, vắc-xin tân tiến hơn và liệu pháp tinh trùng, đó là kho vũ khí của chúng ta trong cuộc chiến chống lại căn bệnh ung thư nhưng nó vẫn chưa đủ mạnh mẽ và đa dạng. Tuy nhiên, một trong những vũ khí mới nhất đã xuất hiện trong tủ thuốc của bạn.

   Aspirin từ lâu đã được coi là một loại thuốc thần kỳ, có thể làm mọi thứ từ điều trị nhức đầu đến ngăn chặn cơn đau tim. Hiện nay, các nhà khoa học vẫn luôn tin rằng có thể điều trị ngăn ngừa các tế bào ung thư lan truyền sau khi khối u hình thành trong cơ thể người.

   Khi các tế bào ung thư lan ra, các tế bào của nó sẽ đi qua dòng máu tới những vị trí mới, nơi chúng sẽ ổn định và phát triển, tất cả quá trình đó điều không bị hệ miễn dịch phát hiện. Trong quá trình di chuyển này, tế bào ung thư vô tình được các tiểu cầu trong máu giúp đỡ từ việc di chuyển đến làm những tấm chắng như áo choàng giúp tế bào ung thư nhận được dinh dưỡng và oxy dẫn đến tình trạng của bệnh nhân ngày một tệ hơn.

   Trong các thử nghiệm với chuột, Elisabeth Battinelli, nhà nghiên cứu huyết học tại Brigham và Bệnh viện phụ nữ ở Boston, đã nhận thấy rằng aspirin sẽ ngăn ngừa các tiểu cầu trong máu giúp đỡ tế bào ung thư trong quá trình di chuyển đến vị trí mới, từ đó sẽ giảm thiểu được khả năng lây lan của tế bào ung thư.

Không dành cho tất cả mọi người

   Mỗi năm, có 1,6 triệu người bị mắc bệnh ung thư riêng ở Hoa Kỳ chiếm tỷ lệ gần 600.000 người chết do mắc bệnh ung thư. Thật không may, aspirin không thể giúp hết được cho mọi người, trên thực tế bất kỳ điều gì cũng có rủi ro riêng và loại thuốc này cũng vậy, nó mang theo những phản ứng phụ làm ảnh hưởng đến sức khỏe người dùng như làm họ bị mất máu.

   Ngay bây giờ, mọi thứ sẽ được tiết lộ, rằng ai sẽ là người được hưởng những lợi ít từ thuốc và ai sẽ bị những phản ứng phụ

   Andrew Chan, một nhà dịch tễ ở Trường Y khoa Harvard tại Mỹ, cho biết: “Đó là một thách thức trong phát triển một xét nghiệm phân tử duy nhất để phát hiện ai sẽ bị phản ứng phụ với thuốc vì aspirin không hoạt động theo một cách duy nhất”.

   Các nhà nghiên cứu đã tìm kiến các loại gen liên quan đến việc aspirin tác động đến tiểu cầu trong máu và hy vọng sẽ tiến xa hơn về việc liệu aspirin chỉ có tác dụng tích cực cho một số người hay không. Cho đến lúc đó, các nghiên cứu ở diện rộng hơn, đa dạng hơn sẽ cung cấp nhưng cái nhìn sâu hơn về khả năng chóng lại ung thư của loại thuốc thông thường nhưng phi thường này.

Huyền Trang
Theo từ Futurism

Tóm lược: Các nhà khoa học đang tiến hành nghiên cứu các phương pháp điều chỉnh biểu hiện gene, chống lại tầm hiểm hoạ đe doạ từ ung t...


CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU CÓ THỂ ĐIỀU CHỈNH GEN NHẰM ĐÁNH BẠI MỐI NGUY HIỂM TỪ UNG THƯ

Tóm lược: Các nhà khoa học đang tiến hành nghiên cứu các phương pháp điều chỉnh biểu hiện gene, chống lại tầm hiểm hoạ đe doạ từ ung thư. Việc này có thể dẫn tới tính cá nhân hoá cao, xét trên cấp độ di truyền và cách điều trị ung thư. Những phương pháp như vậy có tiềm năng ngăn chặn sự phản kháng của các tế bào ung thư đối với thuốc trị liệu.

GIẢI MÃ CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ

   Sự hiểu biết về cấp độ phân tử trong DNA của chúng ta là vấn đề hoàn toàn khả thi với nền khoa học hiện nay, lĩnh vực gọi này là hệ gen cá thể . Các phương pháp tiếp cận như vậy có thể cho chúng ta phát hiện ung thư do những thay đổi gây ra trong gen. Các ví dụ nổi tiếng điển hình là gene gây ung thư hắc tố BRAF kinase, gene gây ung thư vú BRCA và kháng nguyên tuyến tiền liệt đặc hiệu PSA.

   Nhưng có nhiều điều để bàn về ung thư và các bệnh khác hơn là chỉ về bộ genes của chúng ta. Ngoài mã DNA, còn có một lớp ẩn kiểm soát một số hoạt động gene - nhưng không hề thay đổi bản thân DNA. Lĩnh vực này được gọi là biểu sinh thể, nghiên cứu về cách thức các gen được điều chỉnh như thế nào để biểu hiện di truyền, mặc dù chúng dựa vào thông tin di truyền giống nhau. Một gene vẫn là một gene, nhưng nó sẽ có những phản ứng khác nhau với nhiều điều kiện của môi trường hóa học xung quanh.

   Lấy ví dụ,có bao giờ bạn nghĩ tại sao những cặp song sinh giống hệt nhau lại khác nhau? hoặc là làm sao lối sống của ông bà ta có thể ảnh hưởng đến cuộc sống chúng ta ngày nay? Một cái gì đó ngoài cả DNA đang nắm nhiệm vụ này, đó là 'ngoại di truyền' (epigenetics) (hiện tượng biến đổi biểu hiện gene mà không do tác động của sự thay đổi hóa học của chuỗi DNA trong bộ gene).

   Lớp ẩn chịu trách nhiệm trong việc tinh chỉnh bên cạnh DNA,được gọi là cơ chế điều hoà epigenomic (epigenomic regulation). Epigenomics là lĩnh vực định lượng các dấu ấn biểu sinh ngoại di truyền trên toàn bộ hệ gen, do đó tức thời nắm bắt được những hình ảnh về trạng thái đó trong cơ thể chúng ta. Gần đây, các phòng thí nghiệm về hệ thống sinh học và chuyển hóa ung thư tại UC Merced vừa công bố những khám phá mới về một yếu tố biểu sinh ngoại di truyền được gọi là "Jumonji". Yếu tố này không chỉ ảnh hưởng đến toàn bộ mạng lưới vận hành của gen ung thư; nó thực sự làm chủ toàn bộ vai trò của một gen ung thư, gây ra sự tăng sinh không kiểm soát được của tế bào.

BIỂU SINH NGOẠI DI TRUYỀN NẮM BẮT NHỮNG KIỂM SOÁT TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA GENE

   Đã có những bác sĩ, những người có khả năng chẩn đoán bệnh, trên một mức độ nào đó, sử dụng các xét nghiệm di truyền học cá nhân nhằm kết hợp loại hình di truyền đặc trưng vào các quyết định thực nghiệm lâm sàng. Tuy nhiên, bộ gen của chúng ta ẩn chứa nhiều thứ hơn những gì các phép thử đó có thể phát hiện.

   Biểu sinh ngoại di truyền giải thích rõ cho những thay đổi hóa học ảnh hưởng tới các biểu hiện "on" hoặc "off" của gene. Điều quan trọng ở đây là những thay đổi hoá học này không làm thay đổi trình tự chuỗi DNA. Ngoài ra, các tế bào sử dụng sự vận hành của epigenomic để kiểm soát những hoạt động của gene. Nếu các phản ứng hóa học diễn ra đúng nơi, những sản phẩm gene tương ứng sẽ biểu hiện vào đúng thời điểm thích hợp.

   Các yếu tố môi trường như chế độ dinh dưỡng, khói thuốc lá cũng như hormone của chúng ta đều tác động mạnh mẽ đến biểu sinh ngoại di truyền và ảnh hưởng đến khả năng hoạt động của gene.

   Trong một số bệnh như ung thư, các chất điều tiết epigenomic như Jumonji thường hoạt động sai nhịp, khiến chúng gây ảnh hưởng không tốt lên hoạt động của gene. Một điều có thể xảy ra là chúng không đưa ra những thay đổi hóa học đúng lên các gen đích, những gene phải dựa vào nhiều yếu tố khác để biểu hiện gene "on" hay "off". Điều này dẫn đến sự thay đổi trong quá trình trao đổi chất, thúc đẩy sự tăng sinh không giới hạn của tế bào. Một khi các tế bào đã phân chia không giới hạn, khối u sẽ hình thành.

   Các nhà nghiên cứu nhận thấy sự xuất hiện quá nhiều của Jumonji trong các tế bào ung thư, chúng thúc đẩy sự phân chia không kiểm soát của tế bào, dẫn đến sự sinh trưởng không ngăn cản được của các khối u. Jumonji nắm vai trò là một chất biểu sinh ngoại di truyền chuyên điều chỉnh biểu hiện các gene ung thư. Thêm vào đó, Jumonji còn hợp tác với các cơ quan điều tiết phụ thuộc hóc môn, tham gia vào những loại ung thư kháng trị liệu (treatment-resistant cancers). Nhà sinh học hệ thống giúp chúng ta hiểu được làm thế nào để chống chọi và vượt qua những hiện tượng kháng này. Sinh học hệ thống mở ra những khả năng nhằm giải thích các tín hiệu điều chỉnh và các vi mạch chi phối tế bào. Nếu chúng ta có thể hiểu được những tín hiệu này, những loại thuốc nhằm phá vỡ những đoạn mạch không mong muốn để vượt qua hiện tượng 'kháng thuốc' có thể được thiết kế và đưa vào ứng dụng.

HƯỚNG TỚI CÁ NHÂN HOÁ NHỮNG BIỂU SINH NGOẠI DI TRUYỀN (PERSONALIZED EPIGENOMICS)

   Epigenomics rất có triển vọng cho việc điều trị ung thư, nhưng vẫn còn nhiều nghi vấn chúng ta cần phải trả lời. Epigenome ngoại di truyền của người khoẻ mạnh sẽ như thế nào? Và epigenome sẽ thay đổi như thế nào khi chúng ta ngày càng già đi? Epigenome ngoại di truyền của người bệnh sẽ khác biệt như thế nào so với người bình thường? Trong tương lai, những câu hỏi quan trọng này sẽ được giải quyết bằng phương pháp cá nhân hoá biểu sinh ngoại di truyền, cố gắng khai thác các dữ liệu từ một bức tranh toàn diện về epigenome của con người. Biểu sinh ngoại di truyền của chúng ta rất linh hoạt. Các chất điều hòa epigenomic không ngừng hoạt động, bao gồm Jumonji, loại bỏ hoặc thêm vào các dấu hiệu hoá học cho phép đọc các gene trong thời gian ngắn đồng thời ngăn chặn nó trong phút tiếp theo.

   Có quá sớm không để khách hàng suy nghĩ về việc cá nhân hoá các xét nghiệm ? Những thông tin đó có còn quá bí ẩn hay quá không đáng tin cậy để đưa ra kết luận cuối cùng? Các xét nghiệm cá nhân trên gene cho bệnh ung thư đã tồn tại. Diễn viên Hollywood Ben Stiller tuyên bố một “xét nghiệm di truyền đơn giản” phát hiện nồng độ cao bất thường của “các kháng nguyên tuyến tiền liệt” đã cứu lấy mạng sống của anh. Nồng độ cao bất thường của các kháng nguyên tiền liệt tuyến đặc hiệu xuất hiện trong máu có thể biểu thị rằng người đó bị ung thư tuyến tiền liệt, nhưng không phải luôn luôn là như vậy. Nồng độ cao bất thường của các kháng nguyên tiền liệt tuyến đặc hiệu xuất hiện trong máu có thể biểu thị rằng người đó bị ung thư tuyến tiền liệt, nhưng không phải luôn luôn là như vậy.Đó là lý do tại sao thử nghiệm này không được FDA chấp thuận. Và test xét nghiệm này không xem xét đến các nhân tố ngoại di truyền.
Minh hoạ nghệ thuật biểu hiện dấu tay mang yếu tố điều tiết ngoại di truyền của một người,vượt qua sự thay đổi của DNA. Trong khuôn viên trung tâm nghiên cứu với bức tượng mang tên 'Những sự khởi đầu mới', tượng trưng cho hy vọng về những hướng điều trị khả thi trong tương lai.


HỨA HẸN VỀ NHỮNG LOẠI THUỐC ĐIỀU TRỊ UNG THƯ CHỐNG LẠI YÊU TỐ NGOẠI DI TRUYỀN

   Các loại thuốc điều trị trúng đích 'ngoại di truyền' mở ra tiềm năng mới và những phương hướng khả thi cho các nghiên cứu lâm sàng sau này. Các câu hỏi lâm sàng hiện nay được đặt ra liên quan đến nghiên cứu biểu sinh ngoại di truyền mà các phân tử thuốc có thể biến đổi các biểu hiện ngoại di truyền và giết chết tế bào ung thư. Nó mở ra một vấn đề nếu như các yếu tố ngoại di truyền này mang lại ảnh hưởng tốt hay xấu lên tế bào ung thư. Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng epigenetics thậm chí có thể hỗ trợ các tế bào ung thư thao túng hệ thống miễn dịch của chúng ta và lẩn tránh sự tiếp cận của các loại thuốc điều trị trúng đích.

   Theo những hiểu biết gần đây về gene, các nhà nghiên cứu so sánh sự cân bằng tinh vi này với sự cân bằng Âm/Dương, những tác động lực bổ trợ lẫn nhau nhằm giữ cho cả hai bên đều nằm trong tầm kiểm soát. Nếu có một lực vượt qua cả hệ thống, nó sẽ mất đi trạng thái cân bằng. Đối với các tế bào, điều này sẽ dẫn đến sự tăng sinh không giới hạn, ung thư hoặc thậm chí là tử vong. Không nghi ngờ gì nữa, khi chúng ta có nhận thức rõ ràng,hiểu sâu hơn hơn về cơ chế ngoại di truyền, chúng ta có thể thiết kế các loại thuốc có khả năng phản ứng lại với các yếu tố này.

 Điều này đang bắt đầu xảy ra với một số bệnh ung thư. Những đột phá gần đây trong nghiên cứu u ác tính đã xác định một đột biến di truyền từ một yếu tố ngoại di truyền. Ung thư kháng trị liệu là một trở ngại khá đau đầu hiện nay. Tuy nhiên,thuốc ngoại di truyền epigenetic, riêng biệt hoặc kết hợp với các thuốc khác, có thể là một liệu pháp thay thế khả thi.

   Thuốc 'ngoại di truyền' epigenetic sử dụng trong những nghiên cứu ở phòng thí nghiệm đã ngăn chặn khả năng 'lẩn trốn' của các tế bào ung thư với hệ thống miễn dịch, làm tổn thương các khối u di căn. Đối với bệnh nhân ung thư đã kích hoạt biểu sinh 'ngoại di truyền', đây là một liệu pháp điều trị ung thư hứa hẹn nhiều hi vọng trong tương lai - ứng dụng các loại thuốc mang yếu tố biểu sinh ngoại di truyền. Fabian V. Filipp, Trợ lý Giáo sư về Sinh học Hệ thống và Chuyển hoá Ung thư, Đại học California, Merced

Như Nguyện
Theo The Conversation và Futurism

TÓM TẮT: Các chủng vi khuẩn kháng các loại thuốc đang làm cho thuốc kháng sinh trở nên vô dụng với các bệnh nhiễm trùng, nhưng một giả...

Các phương pháp thiên nhiên có thể tiêu diệt siêu vi khuẩn


TÓM TẮT: Các chủng vi khuẩn kháng các loại thuốc đang làm cho thuốc kháng sinh trở nên vô dụng với các bệnh nhiễm trùng, nhưng một giải pháp không ngờ đến có thể tìm thấy trong si-rô cây phong. Các hợp chất tự nhiên trong si-rô chiết xuất từ cây phong có thể làm giảm lượng kháng sinh cần thiết để điều trị bệnh nhiễm trùng khoảng 90 phần trăm.

ĐƯỜNG CHO SIÊU VI KHUẨN

   Đối phó với bệnh tật chưa bao giờ là điều dễ dàng trong lịch sử loài người chúng ta. Bất cứ khi nào chúng ta cảm thấy không được khỏe, chúng ta sẽ tìm điều làm chúng ta cảm thấy không ổn và sẽ uống bất kì thuốc kê toa nào để làm triệu chứng biến mất. Điều này dường như chỉ là tạm thời, cho đến khi chúng ta nghĩ về khả năng thích nghi của các vi khuẩn gây bệnh nhiễm trùng. Chọn lọc tự nhiên có thể là một trò chơi nguy hiểm.

   Các loài thường được đưa vào thử nghiệm tiến hoá: diệt vong - hoặc tồn tại và thích ứng. Trong trường hợp vi khuẩn gây bệnh, gần đây là kết quả không như mong muốn của việc chúng ta lạm dụng kháng sinh. Hầu hết các chuyên gia về sức khoẻ đều lo sợ rằng các loại vi khuẩn kháng thuốc, hoặc "siêu vi khuẩn", có thể là cuộc khủng hoảng sức khoẻ toàn cầu tiếp theo của chúng ta.

   Với tỷ lệ kháng thuốc kháng sinh (AMR) của các loại vi khuẩn hiện nay, các chuyên gia dự đoán rằng, cuộc chiến với các bệnh lao, HIV và sốt rét sẽ chỉ diễn biến phức tạp hơn. Mặc dù sự kháng thuốc đang đe doạ và làm cho các loại thuốc cứu sống trở nên vô ích, ba nhà nghiên cứu Canada có thể đã phát hiện ra câu trả lời cho loại siêu vi khuẩn - và đó là si-rô cây phong.

   Nathalie Tufenkji và nhóm nghiên cứu của họ đã trình bày nghiên cứu của họ tại Hội nghị Quốc gia lần thứ 253 và Triển lãm của Hiệp hội Hoá học Hoa Kỳ, nêu ra các gia vị có trong bữa sáng ưa thích của chúng ta có thể giúp tăng cường hiệu quả của thuốc kháng sinh như thế nào.

THUỐC KHÁNG SINH TRONG SI-RÔ

   Tufenkji tin rằng giải pháp của chúng ta đối với AMR nằm ở các hợp chất phenolic, là những phân tử tự nhiên thường có các hoạt động sinh học. Một số hợp chất phenolic có trong si-rô cây phong được chuẩn bị từ nhựa cây phong được cô đặc, và các hợp chất này có thể chiết xuất. Được mệnh danh là si-rô chiết xuất từ cây phong giàu hợp chất phenolic, hợp chất này chỉ chống lại vi khuẩn khi kết hợp với các thuốc kháng sinh hiện có, tạo ra một sức mạnh tổng hợp có thể làm giảm liều lượng thuốc kháng sinh cần để điều trị bệnh nhiễm trùng bằng con số đáng kinh ngạc 90 phần trăm.

   Sự tiếp cận hợp chất đã thực hiện trên nhiều dòng vi khuẩn gây hại như: E.coli, vi khuẩn gây ra các bệnh đường ruột; Proteus mirabilis, vi khuẩn gây viêm đường tiết niệu; và Pseudomonas aeruginosa, một nguyên nhân phổ biến làm bệnh viện bị nhiễm trùng.

   Sức thuyết phục của si-rô cây phong có nguồn gốc từ hỗn hợp dường như hoạt động chống lại vi khuẩn bằng cách tăng độ thấm màng bên ngoài, ức chế sự trao đổi chất của vi khuẩn, và ức chế các gen gắn liền với các gen kháng thuốc và sự di chuyển của vi khuẩn. Sự kết hợp này với chỉ 10% liều lượng kháng sinh dự kiến, và bạn có thể có một giải pháp tự nhiên cho AMR.

   Mặc dù nhóm nghiên cứu không tin rằng dữ liệu này là cuối cùng, nhưng kết quả lại rất hứa hẹn và có thể được xác minh bằng các nghiên cứu trong tương lai. Nếu chiết xuất si-rô cây phong có hiệu quả như nghiên cứu này cho thấy, việc sử dụng nó lâu dài có thể kiểm soát sự kháng thuốc kháng sinh đang phát triển ở siêu vi khuẩn.

Người dịch: Lê Cao Ý Nhi
Tác giả: Neil C. Bhavsar, Christianna Reedy
Nguồn: Futurism

Sự phức tạp trên một con chip    Nhà sinh vật học nghiên cứu về sinh sản Teresa Woodruff của Đại học Northwestern đã đặt ra cụm từ ...

Con chip kinh nguyệt có thể là một cuộc cách mạng trong  phương pháp điều trị các bệnh về sinh sản


Sự phức tạp trên một con chip

   Nhà sinh vật học nghiên cứu về sinh sản Teresa Woodruff của Đại học Northwestern đã đặt ra cụm từ "oncofertility" hơn mười năm trước để giúp các bệnh nhân ung thư trẻ vẫn giữ được khả năng làm cha mẹ. Công việc của cô bị cản trở bởi việc thiếu các mô hình hoàn thiện của hệ thống sinh sản phụ nữ trong quá trình nghiên cứu và thử nghiệm phản ứng với thuốc, do vậy Woodruff đã tự mình tạo ra một mô hình. Năm năm sau, cô đã thành công: vào ngày 28 tháng 3, nhóm nghiên cứu đã công bố sự ra đời của “Evatar”, một mô hình sinh sản nữ thu nhỏ được làm bằng mô người và chuột. Nó tiết ra hooc môn theo chu kỳ 28 ngày, và nằm vừa trong lòng bàn tay của bạn.

   Biochip này không giống với các mô hình minh hoạ của ống dẫn trứng và mô hồng mà bạn đã nhìn thấy; thay vào đó là các giếng nhựa hình kim cương và lập phương chứa chất lỏng màu xanh của hệ thống. Các khoang giếng nhỏ này chứa các bộ phận nhỏ như: buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung, cổ tử cung và gan. Các giếng được gắn chặt vào tấm kim loại và được kết nối với máy tính để điều khiển dòng chảy của chất lỏng giữa các bộ phận. Nhóm nghiên cứu có thể sử dụng lá gan có sẵn, còn các bộ phận nhỏ khác được thiết kế cho hệ thống. Buồng trứng được làm từ mô của chuột, và các bộ phận nhỏ khác được tạo ra từ các mô của người hiến tặng.

   Các thành viên nhóm nghiên cứu có thể lấy mẫu để đo lượng hoocmon như progesterone và estrogen khi chúng chảy qua hệ thống. Thiết bị này là duy nhất vì nó cho phép các nhà nghiên cứu theo dõi và mô hình hóa hồ sơ của toàn bộ hệ thống sinh sản trong cùng một lúc. Nhóm nghiên cứu đã dành hai năm để làm việc với các mô và kích thích các mô phát triển trước khi đưa chúng vào hệ thống chất lỏng vi mô.
Evatar- Via Northwestern University

Phát hiện các bệnh ở phụ nữ

   Evatar, giống như những hệ thống của các bộ phận trên con chip khác, nó có tiềm năng cách mạng hóa trong việc thử nghiệm thuốc. Đây là lý do tại sao chính phủ Hoa Kỳ đã đầu tư hơn 100 triệu USD vào công nghệ trong năm năm qua. Tuy nhiên, đây là hệ thống mô hình chu kỳ sinh đẻ và kinh nguyệt đầu tiên. Đây là chìa khóa, bởi vì vẫn còn rất nhiều sự thiếu hụt về kiến ​​thức liên quan đến tử cung.

   Rõ ràng, có những vấn đề đạo đức nhằm ngăn ngừa phụ nữ mang thai tham gia vào việc nghiên cứu về các loại thuốc mới, và các công ty dược phẩm trong lịch sử vẫn lỏng lẻo trong việc thử nghiệm các loại thuốc mới ở động vật, tế bào và con người ở cả hai giới. Trên thực tế, đây là một vấn đề đã được thừa nhận rộng rãi nhưng phần lớn không được giải thích trong nhiều thập kỷ. Vì những lý do này, các nhà khoa học vẫn không biết nhiều về hệ thống nội tiết của phụ nữ (và cơ thể nói chung) tương tác với thuốc như thế nào. Sự thiếu hụt thông tin này giải thích một phần lý do tại sao các phương pháp điều trị tốt cho các bệnh như ung thư cổ tử cung, buồng trứng và tử cung, cũng như u xơ và nội mạc tử cung - có ảnh hưởng đến 15% phụ nữ Mỹ - vẫn còn thiếu.

   Một vài công ty dược phẩm đã tiếp cận phòng thí nghiệm về việc sử dụng công nghệ, và điều này đã khiến nhóm của Woodruff suy nghĩ về việc kết hợp các bộ phận vi mô khác với mô hình kinh nguyệt của họ trong tương lai. Các mô hình kết hợp sẽ cho phép họ kiểm tra thực tế hơn về cách thức thuốc ảnh hưởng đến các cơ quan với lớp phủ hormon luôn hiện diện. "Chúng tôi đã thay thế sự phức tạp của chức năng sinh lý con người", Woodruff nói. "Chúng tôi nghĩ rằng điều này sẽ thay đổi triệt để cách chúng tôi nghiên cứu rất nhiều về hệ thống con người, không chỉ là hệ thống sinh sản nữ."

Hiếu Minh
Theo WIRED, Nature, The Guardian, Brigham and Women's Hospital và Futurism

Tóm tắt: Lịch sử của sự sống trên vũ trụ quay lại với những tia sáng của trí tuệ tạo nên RNA đầu tiên. Như thể việc RNA và DNA hoạt độn...

BƯỚC TIẾN HÓA TIẾP THEO CỦA NHÂN LOẠI SẼ KHÔNG CHỈ DỪNG LẠI BÊN TRONG CƠ THỂ?

Tóm tắt: Lịch sử của sự sống trên vũ trụ quay lại với những tia sáng của trí tuệ tạo nên RNA đầu tiên. Như thể việc RNA và DNA hoạt động và tiến hóa đến cuối cùng nhằm đưa bộ não con người vào thế giới, còn trí tuệ nhân tạo sẽ hoạt động và tiến hóa để đưa nhân loại lên một tầm cao mới.

Ánh sáng trí tuệ

Trí tuệ là hành khách, ngành sinh vật học là tài xế.” - Karl Schroeder

   Ngay sau khi trái đất hình thành cách đây 4,5 tỷ năm, sự sống đã xuất hiện. Mặc dù các chứng cứ rất mờ nhạt nhưng người ta cho rằng một vụ nổ năng lượng có thể đã va chạm lên một “nồi súp” nguyên tố hóa học nguyên thủy mà tại nơi đó các phân tử năng lượng kết khối lại thành RNA.



   Ngay sau đó, RNA đã tiếp tục tạo ra một phiên bản ổn định hơn của chính nó mà có thể truyền chính xác hơn thông tin từ thế hệ này sang thế hệ kế tiếp, đây là DNA. Tuy nhiên, vì ưu điểm này, DNA đã thay thế RNA như một sự thúc đẩy của cuộc sống và sau đó RNA bị buộc phải nằm dưới sự kiểm soát của nó. Nhưng RNA vẫn ở lại hỗ trợ DNA vì chúng có khả năng truyền tải nhanh thông điệp xung quanh rất tốt.

   Khả năng đặc biệt của DNA và lý do để nó vẫn tồn tại đến hiện tại chính nhờ khả năng sao chép và truyền thông tin từ thế hệ này sang thế hệ kế tiếp. Tất cả sự sống trên trái đất đều có thể phát hiện nguồn gốc của chúng chính nhờ lý do này.


   Nhờ sự giúp đỡ của người bạn mới là Ribosome, DNA đã sử dụng các protein như một công cụ cho phép nó mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mình và chạm vào thế giới. Bằng một loạt các protein khác nhau, DNA xây dựng nên các cơ thể ở mức độ tế bào, chúng hoạt động như nhà cửa và phương tiện vận chuyển cho chính DNA. Các tế bào cung cấp khả năng bảo vệ và khả năng di động tốt hơn từ đó cho phép DNA tạo ra trên một quy mô lớn. Được bao bọc trong các tế bào, DNA đã khám phá ra nhiều hơn các cơ quan khác, những vật chất sống khác mà mỗi thứ có những đặc tính độc nhất, ví dụ như ty thể sử dụng tốt nhất trong việc tạo ra năng lượng. Chúng hấp thụ những cơ quan tế bào hữu ích này vào trong cơ thể tế bào và nhờ một loạt các cơ quan khác hiện đang sống chung với chúng, DNA có lợi thế rất lớn so với mọi thứ xung quanh, cho phép nó lan rộng nhanh hơn bất cứ vật chất gì khác trên trái đất.
(DNA bị giới hạn trong nhân tế bào và thường xuyên chỉ đạo RNA tạo ra và phân phối các protein đến các phần khác nhau của cơ thể tế bào cần protein)

   Tiếp đó, DNA xây dựng các cấu trúc tinh xảo hơn bao giờ hết để tự gia cố và thử nghiệm với một số loại cơ thể tế bào khác nhau, mỗi cơ thể có sự khác nhau về cách sắp xếp và số lượng của các bộ phận. Cuối cùng, DNA đã có những thành phần cần thiết của một cơ thể tế bào đơn giản, nền tảng này cho phép DNA có bước nhảy vọt tiếp theo sau khi tìm ra làm thế nào để kết hợp nhiều hơn một tế bào với nhau, tạo ra sự sống đa bào.

Tiếp nối sự phát triển

   Trong các cơ thể đa bào mới lạ, DNA vẫn tiếp tục phát triển. Trong hàng tỷ năm, DNA thử nghiệm với các bộ phận khác nhau để đưa vào các vật chất sống như tĩnh mạch, xương, mắt, phổi và các chi. Đây cũng là các công cụ mới có thể cung cấp thêm thông tin về thế giới và cải thiện khả năng di chuyển của DNA. Sản phẩm phụ của tất cả quá trình này, cùng với các quy luật của quá trình tiến hóa bằng con đường chọn lọc tự nhiên, là sự hình thành tất cả các loài động vật và thực vật sống trên hành tinh này.

   Tuy nhiên, đây lại là một quá trình diễn ra chậm rãi, tẻ nhạt và vô số những sai lầm đã xảy ra theo cách gây ra sự căng thẳng và diệt vong cho hàng tỷ sinh vật phải hy sinh vì sự tiến hóa. Theo một cách tượng trưng, tất cả hi sinh sẽ có giá trị khi một ngày nào đó, DNA sẽ đạt được thành tựu vang dội của mình, đó là sự ra đời của bộ não loài người.

   Trước đó, thông tin vẫn đang được chuyển từ thế hệ này sang thế hệ thứ hai khiến cho bất kỳ sự thay đổi nào cũng mất rất nhiều thời gian. Sau hàng tỉ năm cố gắng tìm ra cách làm tốt hơn, DNA đã tìm ra giải pháp chính là bộ não, một công cụ cho phép sinh vật xây dựng và truyền thông tin tới các sinh vật khác trong suốt cuộc đời của nó.

   Bằng sự xuất hiện mới mẻ của một loài Homo Sapiens, được ban cho một hình thức trí thông minh mới cho phép truyền tải các thông điệp phức tạp cho nhau và xây dựng các công cụ của riêng chúng. Ngày nay, những hậu duệ của giống loài này đang trên đà tạo ra một công cụ tốt hơn bao giờ hết đó được gọi là “trí tuệ nhân tạo”. Và giống như RNA tạo ra DNA và DNA tạo ra bộ não loài người, cho phép mỗi người tiếp cận những địa điểm mới và khám phá những gì mà họ không thể đạt được một cách tự nhiên, thì “trí tuệ nhân tạo” cũng cho phép con người đạt được những tiến bộ cao hơn.

   Trí tuệ nhân tạo là bước tiếp theo của cuộc sống. Hy vọng rằng, giống như RNA tồn tại nhờ vào khả năng trợ giúp cho DNA, chúng ta có thể tìm ra cách thúc đẩy cho “trí tuệ nhân tạo”.


Lưu ý: Hầu hết kiến thức này đã được đơn giản hóa sự phức tạp đáng kinh ngạc của sinh học và rất nhiều bước quan trọng được bỏ qua, để rõ hơn các thông tin, đọc thêm phần này từ BBC và xem bốn phần về lịch sử của sự sống trên trái đất từ SciShow.

Huỳnh Thanh Thảo
Theo Benjamin Stecher và Futurism

Tóm Tắt:   • Các chuyên gia đang tiếp tục phương pháp biến đổi các tế bào da thành các tế bào đa năng sau sau đó các tế bào đó sẽ đượ...

MỘT KỸ THUẬT MỚI BIẾN ĐỔI DA NGƯỜI THÀNH TẾ BÀO THẦN KINH


Tóm Tắt: 
• Các chuyên gia đang tiếp tục phương pháp biến đổi các tế bào da thành các tế bào đa năng sau sau đó các tế bào đó sẽ được tái biệt hóa ( reprogrammed) thành các vi tế bào thần kinh đệm ( microglia cells)
• Các tế bào thần kinh này có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của các bệnh thần kinh, ví dụ như Alzheimer. Nghiên cứu về chúng có thể giúp các nhà khoa học trong việc tìm kiếm những liệu pháp mới.

TỪ DA CHO ĐẾN NÃO

   Não bộ là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ thể người, vì thế tổn thương đến não bộ khi bị thương hoặc do lão hóa có ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống con người. Các bệnh về thần kinh tiêu biểu hiện nay được xem như các bệnh nguy hiểm nhất và các bệnh này rất khó chữa trị. Một trong số các bệnh đó là các bệnh về Alzheimer

   Thông thường, nghiên cứu về Alzheimer dựa trên các tế bào thần kinh của những con chuột. Ngày nay, các nhà thân kinh học từ University of California, Irvine ( UCI) đang tiếp tục phát triển một phương pháp có thể sử dụng các tế bào từ con người thay vì từ động vật để có thể hiểu rõ hơn về các chứng bệnh về thần kinh.

   Trong nghiên cứu được đăng trên tạp chí Neuron, các nhà nghiên cứu đã tìm ra cách chuyển hóa tế bào da người thành tế bào gốc và biệt hóa chúng thành các vi tế bào thần kinh đệm (microglia cells). Kết quả cuối cùng ,các tế bào này chiếm 10 đến 15% của não bộ , bao gồm các tế bào chết và tế bào bị phá vỡ, cho thấy khả năng việc khống chế viêm nhiễm. Các vi thần kinh đệm rất quan trọng trong việc hình thành và bảo trì hệ thống thần kinh- trích lời Mathew Blurton Jones, nghiên cứu sinh từ khoa thần kinh học và nhân cách, UCI.


   ‘’Vi thần kinh đệm có vài trò quan trọng ở các bệnh Alzheimer và các bệnh khác thuộc hệ thống thần kinh trung ương. Các nghiên cứu gần đây đã chứng minh các khám phá mới về các gene rủi ro ở bệnh Alzheimer có liên quan đến biểu hiện của các vi thần kinh đệm” –Jones trình bày trỏng phỏng vấn được đăng ở UCI. “ Sử dụng các tế bào này, chúng ta có thể hiểu được bản chất sinh học của chúng và thử nghiệm các phương pháp điều trị mới”

MỘT PHƯƠNG PHÁP TÁI TẠO MỚI

   Các tế bào da được hiến bởi các bệnh nhân Alzheimer ở trung tâm nghiên cứu UCI. Trước tiên các tế bào này được chuyển hóa thành tế bào đa năng ( iPS) – các tế bào của người trường thành được lập trình để biểu hiện như một phôi bào gốc ( embryonic stem cell), tạo điều kiện để chúng trở thành các dạng tế bào khác. Các tế bào iPS này sau đó được làm thử nghiệm với các yếu tố biệt hóa được thiết kế phù hợp với môi trường phát triển của các vi thần kinh đệm, và các tế bào này có thể chuyển hóa chúng thành tế bào thần kinh.

   “Khám phá này cùng cấp một hướng mới trong mảng các bệnh liên quan đến con người và phát triển các liệu pháp mới” theo lời Wayne Poon- phó viện nghiên cứu UCI MIND. Các nghiên cứu sinh, đã phát triển có chủ đích “ một phương pháp tái tạo siêu hiệu quả ( high-throughput) để hiểu rõ về tác dụng của của các phản hồi miễn dịch của bệnh Alzheimer bằng cách sử dụng tế bào con người” – Edsel Abud.

   Một cách khác, bằng việc sử dụng tế bào vi thần kinh đệm của con người thay vì từ chuột, các nhà nghiên cứu đã phát triển một công cụ chính xác hơn trong việc nghiên cứu các bệnh thần kinh và phát triển các hướng chữa trị có mục đích hơn. Trong trường hợp bệnh Alzheimer, họ đã nghiên cứu về các yếu tố di truyền cùng với các cộng hưởng về mặt tự nhiên giữa bệnh lý và tế bào vi thần kinh đệm được biệt hóa. “ Các nghiên cứu chuyển đổi này sẽ giúp cho các phương pháp điều trị tốt hơn” –Abud

   Ngoài ra, họ đang sử dụng các tế bào vi thần kinh đệm biệt hóa này trong việc lập trình não 3D. Với mục đích hiểu rõ hơn về cộng hưởng giữa các tế bào vi thần kinh đệm và các tế bào thần kinh khác, và cơ chế các tế bào này trong sự phát triển của bệnh Alzheimer và các bệnh thần kinh khác. Những điều này đã có thể trở thành hiện thực bằng việc tái biệt hóa tế bào gốc. Nghiên cứu này là một ví dụ khác cho sự thay đổi trong y dược bởi tế bào gốc.

Tuyền Dương
Nguồn: Newswise, Nueron Dom Galeon