Tóm lược: Một nghiên cứu gần đây đã tiết lộ rằng mỗi nơron cá nhân trong não bộ con người có thể độc nhất về mặt di truyền nhờ các đột biến xảy ra trên cơ sở từng tế bào (cell-by-cell basis). Hướng nghiên cứu này cung cấp những hiểu biết chi tiết về các yếu tố nguy cơ đối với chứng rối loạn thần kinh và tâm thần.
KHÔNG CÓ HAI NƠRON GIỐNG NHAU.
Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về các căn nguyên di truyền của vấn đề rối loạn thần kinh, như chứng tự kỷ và tâm thần phân liệt, các nhà khoa học vẫn chưa xác định được một vài yếu tố nguy cơ - và những gene nguyên nhân gây trực tiếp (direct causal genes). Các gene nguy cơ đã được phát hiện thường chỉ liên kết lại với các phân nhóm của những người bị ảnh hưởng, chứ không phải với tất cả những người có rối loạn.
Các nhà khoa học đã xác định rằng nếu một đột biến là nguồn gốc của rối loạn thần kinh, đột biến đó có thể sẽ khó theo dõi. Các đột biến chính mang tính chất di truyền và gây bệnh trực tiếp ít có khả năng lây truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Điều này đã khiến các nhà nghiên cứu tự hỏi: các yếu tố nguy cơ của rối loạn thần kinh xuất phát từ đâu?
Các nhà khoa học đã khám phá ra, trái với nhận thức thông thường rằng tất cả các nơron trong một não đều giống nhau về mặt di truyền, não của mỗi người thực sự là nơi chứa nhiều bộ gen khác nhau. Đây được gọi là hình thái khảm soma (somatic mosaicism), và nó xảy ra bởi vì các tế bào soma, ví dụ như các nơron, là những vật chủ của một số nguồn đột biến tự phát. Sự phát hiện này thúc đẩy việc thành lập mạng lưới khảm Soma của não (The Brain Somatic Mosaicism Network- BSMN), một nhóm mà mục tiêu chính của họ là khám phá tính đa dạng với mục đích kết nối các đột biến khác nhau trong các nơron với các rối loạn thần kinh liên quan.
The Brain Somatic Mosaicism Network Via Science Magazine
ĐIỀU TRỊ BỆNH TÂM THẦN
Vào thời điểm này, khi các nhà nghiên cứu biết rằng mosaicism trở nên phổ biến, và có thể đã xảy ra hàng ngàn thay đổi trên mã di truyền trong neuron của con người. Lỗi trong quá trình sao chép DNA là yếu tố chính gây nên các đột biến soma, và các nơron ban đầu cuối cùng đã phân chia thành não người trưởng thành, phân chia hàng tỷ lần, vì vậy có rất nhiều cơ hội cho những lỗi nhỏ xảy ra trong quá trình sao chép - một nguyên do bất kì trong số đó có thể là yếu tố dẫn tới rối loạn thần kinh.
Tế bào thần kinh trưởng thành sống tương đối lâu hơn các tế bào khác trong cơ thể, do đó những đột biến soma trong các nơron có nhiều khả năng hơn để tác động đến sức khoẻ. Trong quá khứ, các nhà nghiên cứu có thể chưa tìm ra nguồn gốc di truyền của bệnh tâm thần vì họ đang tìm kiếm ở nơi không đúng - tế bào mầm (germ cells). Thay vào đó, có khả năng DNA chịu trách nhiệm đối với những rối loạn thần kinh này chỉ nằm trong các tế bào thần kinh, trước đây không nhìn thấy được bằng cách giải trình tự và không thể phát hiện.
Các nhà nghiên cứu tin rằng việc tìm hiểu nhiều hơn về somatic mosaicism có thể là câu trả lời cho sự hiểu biết không chỉ về đa dạng thần kinh mà còn về sự đa dạng của con người nói chung. Bước quan trọng tiếp theo của BSMN sẽ là việc giải trình tự bộ gen của các neuron riêng lẻ. Nhóm nghiên cứu dự kiến sẽ có dữ liệu từ ít nhất 10.000 sequences vào năm 2020.
Dự án này có thể mở ra các phương pháp điều trị mới - và thậm chí là chữa trị - cho các rối loạn thần kinh, nguyên nhân gây ra khoảng 12% số ca tử vong trên toàn thế giới. Đại học California, nhà thần kinh học San Diego Alysson Muotri, người không phải là thành viên của BSNM, đã chia sẻ với Scientific American, "Tôi rất hào hứng về dự án này - đây là khởi đầu của một điều hoàn toàn mới trong sinh học và thần kinh học."
Tại sao tế bào chống lại chúng ta Jacinta Bowler May 2017
Các nhà nghiên cứu vừa mới khám phá ra cách mà một số phần tử hóa học có khả năng gây ra các bệnh tự miễn dịch, cho thấy bằng chứng cơ giới (bằng chứng có học) đầu tiên cho lý do tại sao chúng thực sự xuất hiện
Bệnh tự miễn dịch là một vấn đề đối với hơn 50 triệu người Mỹ, và mặc dù chúng ta bắt đầu hiểu nhiều hơn về cách làm thế nào để giảm bớt triệu chứng, nhưng chúng ta vẫn chưa hiểu một cách đầy đủ những vấn đề cơ bản.
Richard Kitching, một trong những nhà nghiên cứu ở đại học Monash, Australia (Úc) nói rằng: 'Chúng ta đã biết rằng trong các bệnh tự miễn dịch, có các tế bào T (T-cells) làm chúng ta dễ mắc bệnh và tế bào T cũng bảo vệ chúng ta khỏi bệnh tật.'
'Bây giờ chúng ta biết cơ chế này xảy ra như thế nào; nó mở đường cho những phương pháp điều trị mới và những phương pháp điều trị tập trung hướng tới mục tiêu là để chữa các bệnh đặc trị.
Nghiên cứu mới vừa tìm thấy một tương tác quan trọng giữa 2 gen, sự tương tác này giúp tế bào T giao tiếp tín hiệu phòng vệ chính xác để ngăn chặn chúng tấn công cơ thể.
Hãy qua lại một chút, bởi vì một cách chính xác thì rối loạn chức năng tự miễn dịch của cơ thể là gì?
Thông thường, hệ thống miễn dịch của chúng ta rất giỏi/ tinh thống nhắm vào/ về việc tấn công các kẻ xâm lược từ bên ngoài như vi-rút, vi khuẩn, vi sinh vật mà chúng không được phép ở trong cơ thể. Nhưng trong lúc rối loạn tự miễn dịch, hệ miễn dịch bắt đầu xem a phần của cơ thể như là kẻ ngoại xâm.
Ở bệnh tiểu đường loại 1, các tế bào miễn dịch tiêu diệt tế bào sản sinh ra insulin và ở bệnh viên khớp dạng thấp, tế bào miễn dịch tấn công các khớp xương.
Các nhà nghiên cứu đã khám phá ra hội chứng Goodpaster trong các mô chuột, một điều kiện hiếm gây ra bởi sự tấn công của hệ thống miễn dịch đối với màng nền của phổi và thận.
Những nghiên cứu trước đây đã đưa ra rằng có một số loại protein (chất đạm) nhất định hay các phân tử hóa học trong cơ thể khiến bạn bị các bệnh tự miễn dịch (nhiều hay ít tùy thuộc vào loại phân tử cụ thể)
Hệ thống kháng nguyên hay còn gọi là kháng thể của bạch huyết cầu (bạch cầu) của con người (trong tiếng Anh là the Human Leukocyte Antigen viết tắt là HLA) là một chuỗi các gen mà nó dịch mã cho những protein có chức năng giúp đỡ hệ miễn dịch. Vài phân tử HLA thì ở trên bề mặt của tế bào T (T cells) và sẽ phát ra vài tín hiệu để giúp để tế bào miễn dịch phát hiện và tiêu diệt những kẻ xâm lược cơ thể.
Với nhiều năm thâm niên trong lĩnh vực này, nhà nghiên cứu Jamie Rossjohn từ Đại học Monash nói ‘Các phân tử miễn dịch, được gọi là phân tử hóa học HLA thì có liên đới với việc gia tăng rủi ro về mặt di truyền học (gen) để gây ra tính tự miễn dịch, những ngược lại vài phân từ HLA khác có thể bảo vệ cơ thể khỏi bệnh’.
Ví dụ: vài dạng (kiểu) (hay gen đẳng vị, tiếng Anh gọi là alleles: một trong hai hoặc nhiều các mẫu có thể có của 1 gen, mà được tìm thấy ở cùng một nơi trên nhiễm sắc thể) của phân từ HLA, được gọi là DR15 cho thấy sự gia tăng nguy cơ mắc bệnh của hội chứng Goddpasture, bệnh đa xơ cứng (bệnh cảu hệ thần kinh gây ra tê liệt dần dần) và các điều kiện của tự miễn dịch khác.
Thêm một vài phân tử có tên gọi là HLA-DR1 cũng liên kết với một số lượng điều kiện tử miễn dịch.
Cho đến bây giờ, điều mà các nhà nghiên cứu đã không biết là cơ chế hoạt động của các phân tử này thực sự là gì, và tại sao cơ chế này lại gây ra sự gia tăng các bệnh tự miễn dịch.
Các nhà nghiên cứu đưa những con chuột, mà chúng được gây giống trước đó rồi để thể hiện gen DR15 của người hoặc gen DR1 của người và phát hiện ra rằng chuột DR15 bắt đầu phát triển hội chứng Goodpasture, nhưng những con chuột chỉ có DR1 hoặc cả hai phân tử thì không.
"Trong bệnh của Goodpasture, khi phân tử DR15 hiện diện, nó có thể lựa chọn và hướng dẫn các tế bào T tấn công cơ thể. Nếu một mình trong cơ thể, các tế bào gây tổn hại này có thể tấn công các mô của cơ thể, kết quả này là bệnh rất nặng", Kitching nói.
"Nhưng khi con người cũng có phân tử bảo vệ DR1 xuất hiện thì những tế bào T này sẽ bị giữ lại và có thể bị lật ngược."
Mặc dù cần có nhiều nghiên cứu cần thực hiện tiếp nữa, trước khi mà chúng ta thực sự có thể chú ý đến việc gia tăng các phân tử DR1 ở người, đó là một bước tiến quan trọng trong việc hiểu được cơ chế hoạt động như thế nào và tại sao hệ thống miễn dịch của chúng ta bắt đầu nhìn nhận cơ thể như là một mối đe dọa.
Điều thú vị đó là các nhà nghiên cứu hy vọng rằng những kết quả ban đầu này sẽ dẫn đến các kết quả rõ ràng cho bệnh nhân.
"Những tế bào bảo vệ miễn dịch đặc thù này đặc trưng và cực kỳ mạnh", Kitching nói.
Vì vậy, nếu chúng ta có thể khuyến khích những tế nào này phát triển trong cơ thể, hoặc mở rộng tế bào của người bên ngoài cơ thể và tiêm chúng vào những người có bệnh, điều này có thể dẫn đến kết quả điều trị tốt hơn và nhiều phép điều trị nhắm tới mục tiêu nhất định cho các bệnh tự miễn dịch. "
Đỗ Ngọc Minh
Nghiên cứu này đã được đăng trên tập chí Nature.
Trò chơi trốn tìm Ước tính gần đây thực hiện bởi United Nations cho thấy có khoảng 36.7 triệu người trên toàn cầu được biết mang bệnh...
Trò chơi trốn tìm
Ước tính gần đây thực hiện bởi United Nations cho thấy có khoảng 36.7 triệu người trên toàn cầu được biết mang bệnh HIV, 1.2 triệu người trong số đó đang sống tại United States- theo Centers for Dieseas Control and Prevention ( CDC). Những con số báo động này thật sự tăng dần hằng năm, và liệu pháp hữu hiệu-vẫn chưa được tìm ra-có vẽ như đó là chặng đường dài phía trước. Một trong những nguyên nhân chính làm cho HIV được xem như một căn bệnh có gì đó như chiếc vỏ cứng khó phá vỡ: Virus có khả năng tự ẩn nấp trong các nhóm các tế bào miễn dịch đã nhiễm bệnh nhưng tạm thời chưa tạo ra HIV, khiến việc chữa trị vĩnh viễn rất khó để phát triển.
Mặc dù vậy, vẫn có một tia hy vọng: Các nhà khoa học từ Khoa y học Lewis Ktaz trường Temple University ( LKSOM) và University of Pittsburgh đã công bố nghiên cứu trên tạp chí Journal Molecular Therapy cho thấy có khả năng phẫu thuật tách bỏ HIV DNA từ gien của động vật sống. Đó là lần đầu tiên có một cách được cho thấy là có khả năng, và có thể tăng cơ hội giảm việc lây nhiễm của HIV.
Bí mật ở trong CRISPR/Cas9, công cụ chỉnh sửa gien hiệu quả và công dụng nhất thế giới, gien này giúp cho việc loại bỏ đoạn xác định HIV-1 trong gien của tế bào động vật bị nhiễm được trở thành hiện thực. “ CRISPR- associated protein 9 ( Cas9) – gien gián tiếp chỉnh sửa cho thấy phương pháp chữa trị HIV-1/AIDS trong tương lai”-theo tóm tắt trong trong nghiên cứu. Nghiên cứu này xây dựng khái niệm nền tảng cho nghiên cứu được thực hiện bởi cùng nhóm các nhà khoa học vào năm ngoái.
“Nghiên cứu mới của chúng tôi toàn diện hơn” – Wenhui ( LKSOM). “ Chúng tôi đã củng cố lại các dữ liệu từ nghiên cứu trước và cải thiện hiệu quả của phương pháp chỉnh sửa gien”. Chúng tôi cũng chứng minh được phương pháp này hiệu quả trên 2 mô hình chuột thử nghiệm, một con mang chứng nhiễm cấp tính ở tế bào chuột, con khác nhiễm bệnh mãn tính từ tế bào người”.
Nghiên cứu và tiêu diệt
Các nghiên cứu sinh sử dụng CRISPR/Cas9 để vô hiệu HIV trên 3 mô hình động vật: chuột chuyển gien với HIV-1, chuột nhiễm cấp tính tương đương với HIV của người ( ecoHIV) và nhóm chuột mang các tế bào miễn dịch tìm ẩn HIV-1 được cho vào các tế bào và cơ quan.
Trong tất cả ba mô hình động vật, các nghiên cứu sinh đã có thể thành công phiên dịch phần HIV không hoạt động thông qua chỉnh sửa gien, giảm khả năng biểu hiện ở RNA virus đến 95% trong mô hình thứ nhất và 96% trong mô hình thứ 2. Ở mô hình thứ ba, họ đã có thể loại bỏ đoạn nhiễm tìm ẩn của người trong các cơ quan những con chuột sau một liệu trình CRISPR/Cas9.
Giờ đây, các nghiên cứu sinh cần khiến liệu pháp này hữu hiệu trên người:” Giai đoạn tiếp theo sẽ lập lại nghiên cứu trên các loại linh trưởng, một mô hình động vật phù hợp hơn khi việc nhiễm HIV gây bệnh, để xác thực rõ hơn việc đẩy lùi HIV-1 DNA trong tế bào T-cell bị nhiễm tiềm ẩn, và những nơi bí ẩn khác của HIV-1, bao gồm tế bào não.” –Kamel Khalili. “ Mục đích cuối của chúng tôi là thử nghiệm lâm sàn trên các bệnh nhân”
Do đây là lần đầu tiên việc chỉnh sửa gien được chứng minh có khả năng sử dụng trong HIV ở các động vật, phương pháp này có thể xem như một phương pháp thay đổi trong việc chữa trị virus khó nắm bắt: đây là một khởi đầu quan trọng, cuối cùng, tạo ra một liệu pháp.
Tuyen Duong
Theo Futurism
Tóm tắt: Trên Youtube, MinuteEarth giải thích lý do vì sao telomere đóng vai trò quan trọng trong quá trình lão hóa không chỉ ở người ...
Tóm tắt:
Trên Youtube, MinuteEarth giải thích lý do vì sao telomere đóng vai trò quan trọng trong quá trình lão hóa không chỉ ở người mà còn ở các loài sinh vật có thể tồn tại mãi ở độ tuổi trung niên.
THÁCH THỨC TỪ CÁC TELOMERE
Trong thời điểm, loài người không thể đạt được sự bất tử thì điều tốt nhất có lẽ là tìm ra cách làm chậm hoặc đảo ngược quá trình lão hóa. Và trong khi đã có một ngành công nghiệp hy sinh trọn vẹn vì “chống lão hóa” thì sự thật về sinh học là số phận của chúng ta được ghi lại bên trong DNA. Cụ thể, những những trình tự lặp lại của DNA ở các đầu mút của nhiễm sắc thể gọi là telomere.
Các “mũ” này không duy trì các mã trong protein như gen. Do đó, sau mỗi lần nhân bản DNA, các telomere này lại ngắn đi một chút nhưng không làm mất đi các thông tin quan trọng. Ở người, cuối cùng, các telomere này sẽ quá ngắn và các mã DNA sẽ dần bị mất trong quá trình nhân bản, chính điều này sẽ làm một nút dây quan trọng trong quá trình tái tạo tế bào bị thiếu hụt. Và khi tế bào không còn tái tạo được ở tốc độ như trước thì chúng ta sẽ cảm thấy sự ảnh hưởng trên toàn bộ cơ thể. Chính lúc đó là thời điểm chúng ta bắt đầu già đi và hoạt động chậm lại.
Ở một video trên YouTube, MinuteEarth đã giải thích vai trò của các telomere trong quá trình lão hóa trên nhiều loài và tại sao ở một số loài động vật, chẳng hạn như con chuột chũi thường không xuất hiện sự già đi. Mặc dù xuất hiện các nếp nhăn, chuột chũi thường tạo ra một loại enzyme đặc biệt để xây dựng lại các telomere và giữ cho chúng trẻ hơn hoặc ít nhất là duy trì chúng ở một độ tuổi trung niên không xác định.
TRẺ MÃI HAY Ở TUỔI TRUNG NIÊN ĐẾN CUỐI ĐỜI
Chúng không thực sự chấm dứt sự lão hóa nhưng chuột chũi thường có thể sống lâu hơn ở tuổi trẻ. Tuy loài này có thể sở hữu khả năng độc nhất để thoát khỏi bệnh ung thư nhưng chúng không bất tử. Trong thực tế, các loài sinh vật càng sống lâu càng có nguy cơ bị các loài khác ăn thịt.
Ở loài người, nếu có thể kéo dài sự sống tương tự với chuột chũi, chúng ta có thể không phải lo lắng sẽ bị ăn bởi một sinh vật lớn hơn. Nhưng khác với tuổi trung niên không tóc và nhăn nheo của chuột, chúng ta có thể trở thành nạn nhân của ung thư.
Tóm tắt:
Một báo cáo mới đây của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia cho thấy cộng đồng khoa học đang bắt đầu thay đổi quan điểm của họ về việc chỉnh sửa gene Mối quan tâm lớn nhất của các chuyên gia là việc chỉnh sửa gene có thể sẽ được sử dụng để tạo ra những đứa trẻ theo ý muốn.
CHỈNH SỬA GENE
Kể từ khi cuộc tranh luận về những hậu quả đạo đức đằng sau CRISPR (Clustered Regularly Interspaced Short Palindromic Repeat) bắt đầu, lập trường của cộng đồng khoa học thường thận trọng hơn khi quyết định ủng hộ. Tuy các nhà nghiên cứu nhận ra được tiềm năng nhưng việc chỉnh sửa gene và những hệ lụy của nó đối với tương lai của nhân loại là quá lớn.
Nhưng mới đây, ở một báo cáo của Viện Khoa học Quốc gia (NAS) cho thấy cộng đồng khoa học đang bắt đầu thay đổi quan điểm của họ về vấn đề này. Đồng chủ tịch của Ủy ban nghiên cứu Alta Charo chỉ ra rằng:
Chỉnh sửa bộ gene của con người hứa hẹn rất nhiều cơ hội để mở rộng hiểu biết, cách điều trị hoặc ngăn ngừa sự hủy hoại của nhiều căn bệnh di truyền và ở cả nhiều bệnh khác. Tuy nhiên, chỉnh sửa bộ gen để nâng cao các đặc tính hoặc khả năng vượt quá mức sức khoẻ bình thường sẽ làm tăng mối quan tâm về nghi vấn liệu những lợi ích đem lại có thể vượt trội hơn những rủi ro và về tính bình đẳng nếu chỉ một số người được thay đổi bộ gene.
Đồng chủ tịch Ủy ban và điều tra viên Viện Howard Hughes, ông Richard Hynes nói rằng: “Nghiên cứu chỉnh sửa gene là một nỗ lực quốc tế và tất cả các quốc gia cần đảm bảo rằng bất kỳ ứng dụng lâm sàng tiềm năng nào cũng phản ánh giá trị xã hội, phải chịu sự giám sát và điều chỉnh thích hợp”. Ngoài ra, giáo sư Daniel K. Ludwig chuyên nghiên cứu về ung thư tại Viện Công nghệ Massachusetts cũng cho rằng: "Những nguyên tắc tổng thể và những trách nhiệm xuất phát từ chúng phải được phản ánh trong cộng đồng khoa học của mỗi quốc gia và các quy trình pháp lý”.
NHỮNG RỦI RO VÀ VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC KHÓ XỬ
Mối quan tâm lớn nhất được đưa ra đối với việc chỉnh sửa gene dựa trên khả năng thực tế là nó sẽ được sử dụng để tạo ra các em bé theo ý muốn. Hiện nay, tất cả các nỗ lực tập trung vào việc sử dụng CRISPR để ngăn ngừa bệnh di truyền. Nhưng liệu ai có thể nói rằng những nguyên tắc tương tự sẽ không được áp dụng để xây dựng các đặc điểm như sức mạnh, vẻ đẹp hoặc trí tuệ.
Một số quan điểm cho rằng có nhiều rủi ro tiềm ẩn nếu áp dụng tiến bộ này như nếu chỉ có một số người có quyền tiến gần đến phương pháp này trong tương lai thì liệu nó có thể tạo ra sự chia rẽ xã hội giữa những đứa trẻ được tạo ra theo ý muốn và những đứa trẻ sinh ra một cách tự nhiên không? Và trong một số những trường hợp hiếm gặp, CRISPR chỉnh sửa DNA ở những vị trí ngoài dự định có thể gây hậu quả không lường trước được.
Tất nhiên rằng chúng ta vẫn còn khá lâu để tiến gần hơn với một đứa trẻ được tạo ra theo ý muốn. Vì ở thời điểm hiện tại, kỹ thuật chỉnh sửa gene vẫn đang được thử nghiệm trên động vật và sẽ phải tốn rất nhiều thời gian, nghiên cứu trước khi sẵn sàng áp dụng cho loài người. Nhưng đây không phải là lý do để nói rằng chúng ta không nên có một cuộc trò chuyện về những gì mà tiến bộ này sẽ đưa chúng ta đến.
Tóm tắt: Chúng ta biết rằng những con chuồn chuồn có thể làm một số điều đáng kinh ngạc trong quá trình sinh tồn, ví dụ như bay xa hay dự đoán các động tác của con mồi để giết chết chúng một cách nhanh nhất. Gần đây, một nhà động vật học phát hiện một hành vi quái lạ của con cái ở loài chuồn chuồn Aeshna.
Một nghiên cứu vừa được công bố vào ngày 24 / 4 cho rằng những con chuồn chuồn cái thường có khuynh hướng giả tạo kịch bản một vụ tai nạn để ngăn ngừa những con đực ve vãn, gạ tình.
Rassim Khelifa, tình cờ một nhà động vật học thuộc Đại học Zurich đã lặn lội đến dãy núi Alps của Thụy Sỹ để tiến hành thí nghiệm xem nhiệt độ môi trường ảnh hưởng như thế nào đến ấu trùng. Khi tiến hành thử nghiệm, Khelifa đã chứng kiến một con chuồn chuồn đang bị rượt đuổi bởi một con khác trên một cái ao. Con bị đuổi đột ngột lao xuống đất và nằm bất động. Con còn lại lơ lửng bên trên một lúc trước khi bay đi.
Chuồn chuồn cái giả chế để tránh giao phối với con đực khác
Khelifa kể lại: "Tôi nghĩ con chuồn chuồn cái có thể chết hoặc bị thương nặng sau khi hạ cánh như vậy. Tuy nhiên, nó làm tôi ngạc nhiên khi nhanh chóng bay đi sau đó".
Ngạc nhiên với những gì mà mình nhìn thấy, Khelifa tự hỏi liệu đây có phải là kịch bản được con cái dựng nên để lãng tránh việc giao phối hay không ? Để làm rõ điều này, ông đã để ý quan sát những con chuồn chuồn trong nhiều tháng tiếp theo.
Nhiều tháng quan sát những con chuồn chuồn đã làm cho Khelifa nhận ra rằng kịch bản lạ thường mà ông chứng kiến thực sự phổ biến trong số những con cái của các loài A. juncea. Để hiểu tại sao có hiện tượng này, nhà động vật học đã xem xét đến hành vi sinh sản của loài.
Ông phát hiện ra những con đực lang thang chỉ chờ đợi để ép buộc những con cái giao phối rồi sau đó rời đi, để lại những con cái bị tổn thương khi chúng đẻ trứng. Điều này không giống với những loài chuồn chuồn khác khi con đực có thể ở lại để bảo vệ con cái khi chúng sinh ra.
Ông thấy rằng có nhiều con đực bay tuần tra trong khu vực để chờ đợi một người bạn đời và điều này làm tăng nguy cơ có nhiều con cái bị chết. Tuy nhiên, không phải con cái nào cũng thành công trong việc giả chết lừa con đực. Trong tổng số 27 con cái nằm bất động, có 21 con (77,7%) thành công trong việc đánh lừa con đực có ý đồ cưỡng ép.
Theo Techtime
Tóm tắt: Trong một nghiên cứu mới đây ở Đại học Tufts, nhà nghiên cứu cho rằng gen có ảnh hưởng đến sở thích ăn uống của chúng ta. Chẳng...
Tóm tắt: Trong một nghiên cứu mới đây ở Đại học Tufts, nhà nghiên cứu cho rằng gen có ảnh hưởng đến sở thích ăn uống của chúng ta. Chẳng hạn như người ăn nhiều chocolate hơn, có kích thước vòng eo lớn hơn thì liên quan đến gen receptor oxytocin, và một gen liên quan đến béo phì đóng một vai trò quan trọng trong việc ăn rau và chất xơ. Họ cũng quan sát thấy rằng một số gen có liên quan đến lượng muối và chất béo nạp vào cơ thể.
Silvia Berciano, nghiên cứu sinh sau tiến sĩ về gen và dinh dưỡng, có trình bày tại Hội nghị Sinh học Thử nghiệm ở Chicago hôm thứ Bảy, tại Đại học Tufts cho biết: gen có thể thúc đẩy chúng ta lựa chọn một số loại thực phẩm, mà không phải lúc nào cũng tốt nhất cho sức khỏe.
“Hầu hết mọi người đều có một khoảng thời gian khó khăn trong việc điều chỉnh thói quen ăn uống của mình, ngay cả khi đó là mối bận tâm lớn nhất của họ”, cô nói. "Thay đổi hành vi và thói quen ăn uống có lẽ là một trong những điều khó nhất mà chúng ta yêu cầu ai đó làm."
Gen ảnh hưởng đến sở thích ăn uống:
Mặc dù các nghiên cứu trước đây đã xác định được gen có liên quan đến các chứng rối loạn ăn uống như biếng ăn hoặc bulimia, nhưng ít ai biết được những gen này ảnh hưởng lớn đến hành vi ăn uống ở người khỏe mạnh. Sự biến đổi gen tạo ra sự khác biệt DNA giữa các cá nhân, khiến mỗi người trở nên đặc biệt.
Trong phạm vi nghiên cứu mới này, các nhà khoa học đã phân tích di truyền dựa trên 818 đàn ông và phụ nữ gốc Âu: thu thập thông tin về chế độ ăn uống của họ bằng một bảng câu hỏi. Các nhà nghiên cứu cho rằng các gen đã đóng một vai trò quan trọng trong việc lựa chọn thực phẩm và thói quen ăn uống của mỗi người. Ví dụ như người ăn nhiều chocolate hơn, có kích thước vòng eo lớn hơn thì liên quan đến gen receptor oxytocin, và một gen liên quan đến béo phì đóng một vai trò quan trọng trong việc ăn rau và chất xơ. Họ cũng quan sát thấy rằng một số gen có liên quan đến lượng muối và chất béo nạp vào cơ thể.
Những phát hiện mới này có thể được ứng dụng cho các phương pháp tiếp cận y học chính xác giúp giảm thiểu nguy cơ mắc các chứng bệnh thông thường như bệnh đái tháo đường, tim mạch và ung thư bằng cách điều chỉnh các chế độ ăn uống và điều trị theo nhu cầu cụ thể của từng cá nhân.
“Kết quả của nghiên cứu sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về hành vi ăn uống, do đó có thể dễ dàng tư vấn chế độ ăn uống phù hợp cho từng cá nhân, như vậy sẽ dễ thành công hơn trong việc thay đổi thói quen ăn uống của mọi người”, Berciano cho biết thêm.
Các nhà nghiên cứu tại Đại học Tufts sẽ mở rộng phạm vi nghiên cứu ở các nhóm người có đặc điểm và dân tộc khác nhau để hiểu rõ hơn về khả năng ứng dụng và tác động tiềm ẩn của những phát hiện này. Họ cũng muốn điều tra xem các biến thể di truyền đã được xác định là có liên quan đến thức ăn ảnh hưởng như thế nào nguy cơ gia tăng bệnh tật hay vấn đề sức khoẻ.
Theo Medicalxpress
Vào thế kỷ thứ 19, nhiều nghiên cứu cho hay sự truyền máu chỉ thành công nếu được thực hiện ở những thành viên cùng chủng loại. Thêm v...
Vào thế kỷ thứ 19, nhiều nghiên cứu cho hay sự truyền máu chỉ thành công nếu được thực hiện ở những thành viên cùng chủng loại. Thêm vào đó có những tiến bộ trong việc ngăn ngừa nhiễm trùng và đã giúp giảm thiểu đáng kể những rủi ro trong khi truyền máu. Tuy vậy, rủi ro vẫn còn rất nhiều.
Các loại Máu
Vào năm 1900, bác sĩ người Áo tên là Karl Landsteiner (1868-1943) đang làm việc tại University of Vienna, tự cho mình có trách nhiệm tìm hiểu xem tại sao sự truyền máu lại thất bại.
Karl pha một hỗn hợp gồm 30 nhóm máu của năm đồng nghiệp và của chính mình. Ông thấy rằng khi làm như vậy sẽ tạo ra sự kết tụ của các hồng huyết cầu. Nhưng có một điều đặc biệt là sự kết tụ này không xảy ra đối với mọi nhóm. Karl kết luận rằng kết tụ hay không là tùy thuộc vào sự hiện diện hay không của hai kháng nguyên nằm ở mặt ngoài hồng huyết cầu. Nhắc lại kháng nguyên là những yếu tố giúp cho cơ thể sản xuất ra kháng thể. Ông ta đặt tên là kháng nguyên A và B.
Hai trong số các đồng nghiệp của ông có hồng cầu mang kháng nguyên A và hai kháng nguyên B. Khi máu của mỗi nhóm hòa lẫn thì chúng sẽ kết tụ lại với nhau. Khi máu của Karl và đồng nghiệp không dính lại với nhau khi được pha lẫn thì Karl quyết định rằng các tế bào máu đó không có kháng nguyên nào và gọi đó là máu nhóm O, có nghĩa là số không.
Nhà bác học Karl Landsteiner
Karl gặp rất nhiều may mắn. Vì nghiên cứu của ông chỉ được thực hiện với một con số rất nhỏ cho nên về phương diện thống kê có thể là tất cả đều có máu cùng nhóm. Đặc biệt hơn nữa là về sau này người ta mới khám phá ra rằng các nhóm máu không phân chia đồng đều. Chẳng hạn như bên Anh, 46% dân chúng ở nhóm 0 và 9% có nhóm B.
Thực vậy, mãi tới năm 1902, sau khi nghiên cứu thêm, Karl mới biết rằng mình đã bỏ sót một nhóm máu khác. Đó là các hồng huyết cầu AB với cả hai kháng nguyên. Cho tới khi đó có ít nhất 14 nhóm máu khác nhau được tìm ra.
Đáng tiếc, những khám phá về A-B-O của Karl quá lớn mà vinh dự đến với ông quá trễ. Mãi tới năm 1930 Karl mới nhận được giải Nobel cho công việc quan trọng của mình về các nhóm máu.
Sau đó Karl di cư từ Áo sang Hoa Kỳ và làm việc chuyên về nghiên cứu tại Rockefeller Institute for Medical Research tại New York. Cũng tại đây vào năm 1927 ông tìm ra group máu MN. Rồi tới năm 1936 ông xuất bản tác phẩm The Specificity of Serological Reaction để giúp thành hình khoa học về miễn dịch. Ông tiếp tục khám phá thêm về các vấn đề liên quan tới máu và đây là điều rất quan trọng, nhất là khi đó đang có World War II, khi mà nhu cầu về máu rất quan trọng đối với các chiến sĩ bị thương.
Các Rhesus Factor
Vào năm 1939, hai khoa học gia Hoa kỳ là Philip Levine và Rufus Steton cho hay một trường hợp bất thường. Một thiếu phụ bị sẩy thai sau tám tháng có bầu. Vì xuất huyết quá nhiều, bà được truyền máu của người chồng có cùng nhóm O với mình. Bà bị phản ứng dữ dội mặc dù cả hai đều cùng nhóm như nhau. Theo các nhà khoa học trên, huyết thanh của người vợ đã làm cho hồng cầu của người chồng kết tụ với nhau. Khi họ hòa lẫn huyết thanh của bà vợ với hồng cầu của 104 người cho máu tất cả cùng group O thì 80 mẫu máu kết tụ với nhau.
Các nhà khoa học này kết luận, hồng cầu của người vợ không có một kháng nguyên nào đó. Bà đã tạo ra kháng thể sau khi tiếp xúc với thai nhi. Thai nhi này lại thừa hưởng kháng nguyên của người cha. Khi vợ nhận được máu của chồng, kháng thể của vợ tấn công hồng huyết cầu của chồng và tạo ra một phản ứng khiến vợ suýt nữa mất mạng.
Cùng khi đó thì Karl nghiên cứu sự truyền máu giữa những chú khỉ Indian Rhesus và thỏ và chuột lang. Ông ta thấy kháng nguyên Rhesus do những chú thỏ và chuột lang không những chỉ khiến cho hồng huyết cầu của khỉ kết tụ với nhau mà đồng thời cũng có phản ứng tương tự ở sáu trong số bảy người da trắng tại thành phố New York. Theo Karl, cả khỉ và đa số dân Nữu Ước đều có cùng loại kháng nguyên và ông ta gọi là những ‘Rhesus factor’. Như vậy, cả những chú khỉ và đa số dân Nữu Ước đều Rhesus dương (Rh +), còn máu những người không bị ảnh hưởng là ‘Rhesus Âm’ (Rh-). Nhiều nghiên cứu khác cho hay các kháng nguyên Rh có thể còn tìm thấy ở huyết thanh những người đã có phản ứng trầm trọng sau khi được truyền với loại máu coi như thích hợp.
Tuy nhiên, sự khám phá này, dù quan trọng vì giúp sự truyền máu hầu như an toàn, cũng còn nhiều khó khăn cho sức khỏe thai nhi. Vào năm 1941, căn cứ vào những khám phá vĩ đại của Karl, hai nhà khoa học Levine và Steton thấy rằng phụ nữ đã bị sảy thai đều Rh- và người chồng đều Rh+. Ngoài ra, đa số sảy thai mà đã chết đều mang bệnh gọi là “loạn nguyên hồng cầu erythroblastosis foetalis.” Đây là bệnh thường xảy ra trong một số gia đình mà nguyên nhân chưa được biết. Các nhà nghiên cứu cho hay đây là một trong nhiều bệnh với cùng một nguyên nhân: Sự bất đồng về Rhesus giữa mẹ và thai nhi. Ngày nay, bệnh này còn được gọi là bệnh loãng máu của thai nhi. Với sự thành công của Karl, các bà mẹ đều được khuyên là nên đi thử về kháng nguyên rồi điều trị.
Nguyễn Y Đức
Tóm tắt: Các sợi tơ giàu carbon bền cấp 2 lần sợi tơ thông thường và có thể chịu được ít nhất 50% lực căng mạnh hơn loại thường trước ...
Tóm tắt: Các sợi tơ giàu carbon bền cấp 2 lần sợi tơ thông thường và có thể chịu được ít nhất 50% lực căng mạnh hơn loại thường trước khi bị đứt. Hình thức dệt may thông minh này có thể trở thành ứng dụng trong y học, điền kinh, các thiết bị điện tử có thể mặc và hơn thế nữa.
CHO TẰM ĂN THỨC ĂN ĐẶC BIỆT
Tơ là nguồn chất xơ tự nhiên thông dụng trong các ứng dụng dệt may không chỉ vì đẹp mà còn vì sức mạnh cơ học của nó. Một nghiên cứu mới đây cho thấy các sợi tơ bền và dẻo dai hơn khi tằm được cho ăn bằng các ống carbon nano và graphene.
Graphene là một loại hạt carbon, được xem là một vật liệu kì diệu cho thấy tiềm năng lớn trong năng lượng, điện tử, dược phẩm và nhiều thứ khác. Loài tằm là ấu trùng của loài bướm tơ tằm, kéo tơ từ các sợi protein được tạo ra từ tuyến nước bọt của chúng. Từ đó, một nghiên cứu được dẫn dắt bởi Yingying Zhang thuộc Đại học Tsinghua đã khảo sát ảnh hưởng của việc bổ sung graphene vào chế độ ăn lá dâu tằm của tằm.
Bổ sung graphene vào chế độ ăn của tằm
Các nhà nghiên cứu đã tiến hành cho tằm ăn những lá dâu đã được phun các dung dịch nước chứa 0,2% trọng lượng của ống carbon nano hay graphene lên trên. Sau đó, họ thu tơ của các con tằm này. Chính vì trong sản xuất lụa, việc thu hoạch các sợi tơ tằm là tiêu chuẩn nên phương pháp cho tằm ăn các ống carbon nano và graphene sẽ đơn giản hơn nhiều so với việc xử lý lụa thường xuyên với các vật liệu nano hòa tan trong dung môi hóa học sau khi thu gom.
Theo nghiên cứu này, các sợi tơ giàu carbon sẽ bền gấp đôi sợi tơ thông thường và chịu được ít nhất 50% lực căng mạnh trước khi bị đứt. Nhóm của Zhang đã kiểm tra thử tính dẫn điện và cấu trúc sau khi đốt nóng ở 1.050oC (1.922oF) để carbon hóa các sợi tơ protein. Và kết quả là các sợi tơ giàu carbon này có khả năng dẫn điện và có cấu trúc tinh thể được sắp xếp hợp lý hơn thông thường nhờ vào các hình ảnh từ hiển vi và quang phổ học.
DỆT MAY CỦA TƯƠNG LAI
Chất liệu may mặc được sản xuất từ cách dệt thông minh sẽ đem lại nhiều ứng dụng tiềm năng hơn so với các chất liệu truyền thống. Một loại vải dẫn điện sản xuất từ loại tơ siêu carbon có thể trở thành ứng dụng trong ngành cơ sinh học, hữu ích cho các vận động viên phải chịu lực kéo và ép trên các vùng của cơ thể trong quá trình luyện tập.
Ngoài ra, nó có thể được sử dụng trong công nghệ sản xuất quần áo điện tử như một tia hy vọng để nói chuyện với điện thoại thông minh hay có thể giúp đỡ các nhà khoa học trong việc sáng tạo ra các mô cấy ghép y học có thể phân hủy sinh học.
Theo nhà khoa học vật liệu Yaopeng Zhang của Đại học Donghua, phương pháp được sử dụng bởi nhóm nghiên cứu tại Đại học Tsinghua là một cách dễ dàng để sản xuất sợi tơ tằm chắc khỏe trên diện rộng. Nhờ vậy, chúng ta có thể tiến gần hơn đến một tương lai đầy thú vị với sự sẵn sàng của các công nghệ có thể mặc như một thứ sẽ góp phần cải thiện cuộc sống của tất cả mọi người.
Giá như rượu vang đỏ cũng tốt cho trí não giống như cho tâm hồn! Một nghiên cứu mới đã đưa ra ý kiến rằng điều này có thể đúng. Các nhà nghiên cứu từ viện nghiên cứu Virginia Tech Carilion tìm ra rằng resveratrol, một hợp chất hiện diện tự nhiên trong nhiều loại trái cây, ví dụ như trong trái nho dùng làm rượu vang đỏ, có thể giúp bảo vệ neuron thần kinh, ngăn ngừa não khỏi lão hoá và giữ cho não bộ trẻ trung hơn trong thời gian lâu hơn. Kết quả này càng bổ sung thêm những lợi ích sức khoẻ của rượu vang.
Bài nghiên cứu, được đăng online trên The Journals of Gerontology, thấy rằng những con chuột được bổ sung resveratrol trong một năm có sự bảo tồn kết nối giữa các tế bào thần kinh tốt hơn những con không được bổ sung chất này. Kết quả là, những con chuột này có bộ não giống với những con nhỏ tuổi hơn. Sự trì hoãn quá trình lão hoá của não bộ này thể hiện rõ nhất ở các mối nối tế bào thần kinh, vốn có chức năng truyền gửi tín hiệu từ bộ não đến các cơ bắp.
“Tôi tin rằng chúng ta đang tiến gần hơn đến việc khai thác các cơ chế để làm chậm lại chứng thoái hoá thần kinh do tuổi tác gây ra,” phát biểu bởi tác giả chính của nghiên cứu, trợ lý giáo sư, Gregorio Valdez, The Independent báo cáo.
Viện nghiên cứu The Scripps ở Florida thấy rằng, điều khiến resveratrol đặc biệt là khi được tiêu thụ, nó bám vào các thụ thể estrogen mà không kích thích chúng tái sản xuất. Kết quả là, điều này tạo ra khả năng chống viêm nhiễm trong cơ thể, và khả năng này làm được mọi thứ, từ làm giảm nguy cơ bị bệnh tim đến giảm nồng đô cholesterol xấu, theo như The Scripps báo cáo. Hơn nữa là, nghiên cứu xa hơn cũng thấy rằng resveratrol có thể có khả năng giảm nguy cơ ung thư và tiểu đường.
Rượu vang đỏ và vang trắng có resveratrol từ những trái nho được dùng để sản xuất chúng, nhưng nếu bạn không quan tâm về rượu, vẫn có những cách khác để kết hợp loại hợp chất bổ sung hữu ích này vào trong cơ thể của bạn. Harvard Health báo cáo rằng resveratrol cũng được tìm thấy trong đậu phộng, hạt hồ trăn, nho, rượu vang trắng và vang đỏ, việt quất, nam việt quất, ca cao và sô cô la đen.
Những kết quả này thật đáng mong chờ, gợi về một tương lai mà chúng ta có thể bảo tồn bộ não và chức năng cơ bắp của chúng ta thật tốt khi bước vào tuổi già. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu nói với The Independent rằng, mặc dù resveratrol được tìm thấy trong rượu, chỉ uống mỗi rượu không thì không đủ để bạn nhận được hết lợi ích của resveratrol. Nếu bạn nghĩ rằng một chai rượu có thể thay thế một chế độ ăn uống lành mạnh, hãy nghĩ lại. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mặc dù resveratrol giúp bảo vệ não bộ khỏi lão hoá, sự bảo vệ này không tuyệt như khi áp dụng chế độ ăn kiêng hạn chế calo.
“Trong rượu, lượng resveratrol là rất nhỏ, bạn không thể có được lợi tích như những con chuột uống resveratrol trong rượu vang,” Valde nói. “ Những nghiên cứu này được tiến hành ở chuột và tôi phải cảnh báo nếu có bất cứ ai tự nhồi nhét cơ thể mình với resveratrol dưới bất kì hình thức nào.”
Lê Thanh Hà
Dana Dovey, Medical Daily
Tóm tắt: • Hệ thống của Sundrop Farm tạo 39 mW năng lượng mỗi ngày để cung cấp cho 18,000 cây cà chua trong nhà kính. • Nông nghiệp ...
Tóm tắt: • Hệ thống của Sundrop Farm tạo 39 mW năng lượng mỗi ngày để cung cấp cho 18,000 cây cà chua trong nhà kính.
• Nông nghiệp bền vững có thể là chìa khóa để giải quyết vấn đề thiếu hụt lương thực vì biến đổi khí hậu và gia tăng dân số trong tương lai.
CANH TÁC BÊN TRONG SA MẠC
Hiện nay, phần lớn sự đổi mới của các nông trại đều dựa trên cách tích hợp công nghệ vào thực phẩm được sản xuất từ cây trồng biến đổi gen và chăn nuôi để cải thiện năng suất, tăng khả năng chống chịu bệnh và thích nghi tốt hơn với biến đổi khí hậu. Nhưng tại Úc, đã xuất hiện một phát triển mới với mong muốn chúng ta hãy thay đổi cách trồng thay vì các giống cây đang trồng.
Sundrop Farm tại miền nam nước Úc đang sử dụng kết hợp giữa năng lượng mặt trời và nước biển để sản xuất thực phẩm giữa sa mạc và hoàn toàn độc lập với các nguồn năng lượng không tái tạo. Mỗi ngày, nước biển được bơm 2 km (1,24 m) từ vịnh Spencer đến 20 hecta nông trại. Tiếp đó, nước biển được dẫn qua hệ thống khử muối để cung cấp đến 1 triệu lít nước ngọt để tưới cho 18.000 cây cà chua trong nhà kính.
Hệ thống khử muối được chạy bằng năng lượng mặt trời. Nguồn năng lượng này được tạo ra bằng cách phản chiếu ánh sáng mặt trời từ 23.000 chiếc gương lên trên các tháp nhận cao 115 m (377 feet), từ cách này có thể sản xuất 39 mW năng lượng mỗi ngày. Nông trại này được trồng trong vỏ dừa, nước biển tinh sạch không khí nên không cần đến các loại thuốc trừ sâu. Đồng thời, cỏ tại đây được nhổ bằng tay nên họ cũng không sử dụng thuốc diệt cỏ.
Sundrop- Nông trại dùng năng lượng mặt trời và nước biển
Sundrop- Nông trại dùng năng lượng mặt trời và nước biển
LOẠI HÌNH NÔNG TRẠI TRONG TƯƠNG LAI
Toàn bộ quy trình sản xuất tại Sundrop Farm là một phần nhỏ về việc tạo ra công nghệ mới và việc kết hợp các công nghệ hiện nay theo một hướng mới. Tại Úc, đây có thể là giải pháp trong khoảng 20 đến 50 năm nữa để thoát khỏi tình trạng những nông trại cà chua được trồng bên ngoài khu vực sa mạc.
Sundrop system
Hiện tại, các hình thức canh tác truyền thống làm hao tốn 3 nghìn tỉ đô mỗi năm. Nguồn chi phí này vẫn đang leo thang vì môi trường canh tác như đất sử dụng, ô nhiễm nước, nạn phá rừng, …Bên cạnh đó, vấn nạn biến đổi khí hậu sẽ tiếp tục làm mất đi các nguồn tài nguyên trong nông nghiệp và sự gia tăng dân số dự kiến vào năm 2050 sẽ làm nhu cầu lương thực tăng 50%. Đồng thời, chúng ta sẽ mau chóng không thể thay đổi được các tác động tàn phá nghiêm trọng đến môi trường của hàng loạt các loại thuốc trừ sâu đang được sử dụng.
Tin rằng các dự báo sớm này sẽ mang lại các hình thức canh tác nông nghiệp đổi mới về bền vững như cách canh tác mà Sundrop Farm đã sử dụng như một điều được ưu tiên hơn cả để chống lại nạn đói trong những năm sắp tới.
Huỳnh Thanh Thảo
Nguồn: Futurism, New Scientist, Trucost.
Tóm tắt: Trong số khoảng 100.000 loài nấm trên trái đất, chỉ có khoảng 80 loại phát quang. Các nhà khoa học sẽ có lời giải thích khi ph...
Tóm tắt:
Trong số khoảng 100.000 loài nấm trên trái đất, chỉ có khoảng 80 loại phát quang. Các nhà khoa học sẽ có lời giải thích khi phát hiện ra hai trong số những loài nấm phát quang này.
Nghiên cứu về nấm giúp các nhà nghiên cứu chế tạo ra những chất hóa học phát quang với những màu khác nhau giúp họ có những bước đột phá mới trong khoa học.
Nấm ma thuật
Chúng tôi rất thích nấm, nó có thể cho ra những món ăn ngon và những trò chơi điện tử thú vị - mà chúng ta thường không thể có được những thứ như thế. Tuy nhiên, điều thú vị nhất là thực tế nấm có liên quan nhiều đến sự tiến bộ của chúng ta nó sinh trưởng như một xã hội điều mà chúng ta không ngờ đến. Neonothopanus gardneri và Neonothopanus nambi là hai loài nấm phát quang màu nâu được tìm thấy ở Brazil và Việt Nam, điều đó đã giúp chúng tôi định hình lại quan điểm về sự phát quang sinh học ở nấm có thể diễn ra vĩnh viễn.
Neonothopanus gardneri time-lapse. Credit: Cassius V. Stevani/IQ-USP, Brazil
Mặc dù chúng ta có những hiểu biết sâu sắc về côn trùng, sinh vật biển, thậm chí là ếch – và rồi chúng ta đã phấn khích khi phát hiện ra nấm phát quang sinh học và cho đến bây giờ niềm vui sướng đó vẫn chưa hề suy giảm. Các nhà nghiên cứu đến từ Nga, Nhật Bản và Brazil cuối cùng cũng tìm hiểu được những hiện tượng từng rất khó nắm bắt được đó là nấm phát quang. Họ đã công bố phát hiện của mình trong Science Advances.
Hầu hết các loài nấm phát quang điều có trong hệ sinh thái của chúng ta, nhưng nó chỉ có khoảng 80 loài trong số 100.000 loài nấm có thể phát quang để thu hút côn trùng giúp nó có thể di chuyển bào tử của mình sang những nơi khác với hy vọng sẽ được phát triển ở những vùng đất mới.
Màu sắc không phải chỉ để trang trí
Vì vậy, bây giờ chúng ta sẽ biết được tại sao chúng phát quang được ? Câu trả lời nằm trong phân tử có tên aptly luciferinm, một hợp chất phổ biến trong các phản ứng tạo huỳnh quang. Khi hợp chất này phản ứng với oxy sẽ tạo ra oxyluciferin, chất phát quang. Chất điện tích này sẽ trở lại trạng thái bình thường khi giải phóng khí oxy – chu trình tuần hoàn này sẽ cho phép nấm phát quang liên tục.
Ngoài ra, các enzyme từ nấm cho phép các nhà khoa học tạo ra một số hóa chất giống luciferin có màu sắc rực rỡ.
Khi chúng ta tìm hiểu thêm về phát quang sinh học, nhân loại sẽ có một điểm nhấn khác. Trong khi các sinh vật tự nhiên sử dụng khả năng của mình với vô số lý do – bao gồm ngụy trang, chiếu sáng, phòng vệ, bắt mồi, thu hút con cái (con đực) – và chúng tôi sử dụng sự phát quang sinh học ấy để hỗ trợ cho nghiên cứu của chúng tôi.
Với sự xuất hiện của phát quang sinh học, chúng tôi phân tích dữ liệu di truyền trợ giúp của protein huỳnh quang xanh (GFP), đây là một phân tử cho phép các nhà khoa học nghiên cứu gen với độ chính xác cao. Chúng tôi đang có những cải tiến cho những tia laser của mình bằng cách ghi chép học hỏi từ quá trình tiến hóa 4 tỷ năm tuổi của sự phát quang sinh học.
Hiểu rõ cơ chế làm cho nấm phát quang và các mô hình đã được chia sẻ giữa các sinh vật khác nhau nhưng có cùng một khả năng, chúng ta có thể cải thiện khả năng nghiên cứu, ứng dụng và nâng cao khả năng tiếp cận của chúng ta.
Huyền Trang
Theo Futurism
Bạn đang tìm học bổng du học tại Canada? Chương trình học bổng sau tiến sỹ Banting Postdoctoral Fellowships hiện đang nhận hồ sơ! Học ...
Chương trình học bổng sau tiến sỹ Banting Postdoctoral Fellowships hiện đang nhận hồ sơ! Học bổng trị giá 70 nghìn đô-la mỗi năm trong hai năm tại các cơ sở nghiên cứu của Canada. Các lĩnh vực nghiên cứu bao gồm y khoa, khoa học tự nhiên - kỹ thuật, khoa học xã hội - nhân văn. Hạn chót nhận hồ sơ là ngày 20/9/2017.
Mời bạn xem thêm thông tin tại trang www.banting.fellowships-bourses.gc.ca.
Chương trình học bổng sau đại học của Banting cung cấp tài chính cho các ứng viên tốt nghiệp tiến sĩ, cả ở cấp quốc gia và quốc tế, những người sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế, xã hội và nghiên cứu của đất nước.
Mục tiêu của chương trình sau đại học Banting là:
Thu hút và giữ chân các tài năng bậc tiến sĩ hàng đầu, cả trong nước và quốc tế
Phát triển tiềm năng lãnh đạo
Vị trí của họ cho sự thành công như các nhà lãnh đạo nghiên cứu tương lai
Tóm tắt: Cây mía thuộc chi Saccharum, họ Andropogoneae. Mía có vô số tác dụng đối với sức khỏe con người như điều trị sỏi thận, chữa bệ...
Tóm tắt: Cây mía thuộc chi Saccharum, họ Andropogoneae. Mía có vô số tác dụng đối với sức khỏe con người như điều trị sỏi thận, chữa bệnh vàng da, chống nhiễm trùng, và phòng ngừa ung thư.
Mía có nhiều ở vùng ôn đới ấm áp hoặc các vùng nhiệt đới Nam Á và được sử dụng để sản xuất đường. Thành phần chính của mía là sucrose, tích tụ trong các đoạn thân cây. Sucrose khi được chiết xuất và tinh chế trong các nhà máy chuyên dụng, được sử dụng làm nguyên liệu thô trong công nghiệp thực phẩm hoặc được lên men để sản xuất nhiên liệu ethanol.
Công dụng số 1: Mía đường trị bệnh vàng da
Nước mía là một phương thuốc tự nhiên để chữa bệnh vàng da do sự có mặt của billirubin trong máu. Bệnh này xảy ra do chức năng gan giảm. Tuy nhiên, nước ép mía có thể khôi phục lại khả năng hoạt động của gan, uống nước mía ép có thể chữa bệnh vàng da.
Công dụng số 2: Mía đường trị nhiễm trùng
Một số bệnh nhiễm trùng như nhiễm trùng đường tiết niệu, bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, viêm dạ dày có thể chữa khỏi với một ly nước ép mía mỗi ngày.
Công dụng số 3: Mía đường trị sỏi thận
Sỏi thận xảy ra do mất nước trong cơ thể. Vì vậy, để hydrat hóa cơ thể, bạn hãy cố gắng tiêu thụ nước ép mía một cách thường xuyên. Trong nước mía cũng có một số thành phần tự nhiên có thể phá vỡ sỏi thận.
Công dụng số 4: Mía đường tốt cho bệnh tiểu đường
Người tiểu đường có thể ăn mía hoặc uống nước ép mía do trong loại cây này có chứa chất làm ngọt tự nhiên nên không gây nguy hiểm hoặc làm trầm trọng tình trạng bệnh.
11 công dụng tuyệt vời từ cây mía đường
Công dụng số 5: Mía đường giàu vitamins và khoáng chất
Nước mía giàu vitamins và khoáng chất như phốt pho, sắt, kali, canxi và magiê. Ngoài ra, nghiên cứu cho thấy nước ép mía có thể giúp phục hồi sự thiếu hụt vitamin trong cơ thể do sốt cao.
Công dụng số 6: Trị cúm và cảm lạnh
Nước ép mía làm dịu cổ họng của bạn, giúp chữa đau họng, khản giọng, mất tiếng, viêm khí phế quản ho đau rát họng, cảm lạnh và cúm.
Công dụng số 7: Có thể phòng ngừa ung thư
Thêm vào đó, mía còn mang những lợi ích sức khoẻ cho vẻ đẹp và những người mắc bệnh ung thư. Một số lợi ích về sức khoẻ của cây mía đường như: Nhờ hàm lượng kiềm có trong mía, uống nước ép mía để ngăn ngừa ung thư, đặc biệt là ung thư ruột kết, ung thư phổi, và ung thư vú.
Công dụng số 8: Mía đường bù điện giải cho cơ thể
Mất nước vẫn là một bệnh đặc biệt hay gặp khi vào hè. Vì vậy để ngăn ngừa điều này, bạn có thể thường xuyên uống nước ép mía để hạ nhiệt cơ thể.
Nhờ có các Carbonhydrate, nhiều acid amine, đặc biệt là nhiều acid amine cần thiết, mía đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung chất dinh dưỡng cho cơ thể. Ngoài ra, trong nước mía còn chứa vitamin B1, B2, B6, C, Các muối vô cơ như Can xi, Phospho, sắt… Theo y học cổ truyền, mía có vị ngọt tính mát nên có tác dụng thanh nhiệt sinh tân, giáng khí lợi niệu. Mía rất tốt cho các trường hợp thử nhiệt tổn thương tân dịch, tiểu ít tiểu dắt, nhiễm độc thai nghén nôn ói phù nề, mất nước khát nước, táo bón. Những bài thuốc dân gian từ mía dưới đây rất hiệu quả và tốt cho cơ thể bạn:
Công dụng số 9: Mía đường trị sốt khô họng, tiểu dắt
Mía tươi róc vỏ, đẵn khúc ăn tùy ý, hoặc nước ép mía để mát uống. Dùng cho các trường hợp sốt khô họng, tiểu dắt.
Trị trào ngược dạ dày thực quản: Khi bị nôn ói ra thức ăn, dịch vị hoặc nóng rát thực quản do trào ngược dạ dày, kết hợp 30 – 50ml nước mía, với nước gừng tươi theo tỷ lệ 7/1. Uống nhấp từng ít một. Viêm họng cấp và mãn tính
Củ cải trắng và mía rửa sạch, ép lấy nước, trộn theo tỷ lệ nước mía 10ml, nước củ cải 20ml pha thêm nước lọc lượng vừa để uống, ngày 3 lần, dùng liên tục 3-5 ngày. Bạn cũng có thể nấu mía, củ năng, rễ tranh, mỗi thứ một ít thành nước uống thay trà, dùng nhiều lần trong ngày.
Công dụng số 10: Còn có thể chống sâu răng
Do có chứa hàm lượng khoáng chất cao, nước mía có công dụng phòng chống sâu răng và hạn chế tình trạng hôi miệng. Vì thế, sau khi ăn xong, bạn hãy tráng miệng bằng một khúc mía để vừa thơm miệng lại tránh được sâu răng.
Công dụng số 11: Ngoài ra còn tránh nôn do thai nghén
Nước mía 1 ly, nước gừng tươi một ít, trộn lẫn để uống, ngày 1 lần.
Với rất nhiều công dụng kể trên mía là loại thực phẩm tốt cho sức khỏe, tuy nhiên mía tính lạnh và hàm lượng đường rất cao nên những người tỳ vị hư yếu, hay đầy bụng đi lỏng không nên uống nước mía thường xuyên.
Theo Sức khoẻ và đời sống
TÓM TẮT: - Phụ nữ được điều trị bằng ABDV cho thấy có mật độ trứng gấp 2 – 4 lần phụ nữ khỏe mạnh không được điều trị bằng thuốc. - D...
TÓM TẮT:
- Phụ nữ được điều trị bằng ABDV cho thấy có mật độ trứng gấp 2 – 4 lần phụ nữ khỏe mạnh không được điều trị bằng thuốc.
- Do lượng mẫu thử nhỏ, nghiên cứu này không được kết luận, nhưng nghiên cứu về ABDV trong tương lai có thể thay đổi những gì chúng ta nghĩ rằng chúng ta biết về khả năng sinh sản của phụ nữ.
TÁC DỤNG PHỤ KHÔNG NGỜ TỚI
Một nghiên cứu mới đang thách thức quan niệm từ lâu rằng phụ nữ sinh ra với một số lượng trứng nhất định và không thể hình thành được thêm trong quá trình sống. Nhà nghiên cứu Evelyn Telfer và một nhóm từ Đại học Edinburgh nhận thấy rằng các bệnh nhân ung thư dùng thuốc hóa trị liệu có tên là ABVD không gặp vấn đề về khả năng sinh sản như những bệnh nhân dùng các loại thuốc khác. Họ quyết định dành riêng nghiên cứu cho sự ảnh hưởng của thuốc đối với khả năng sinh sản bằng cách làm sinh thiết buồng trứng của 11 phụ nữ bị u lympho Hodgkin (ung thư bạch huyết) và 10 phụ nữ khỏe mạnh. Trong số 11 người phụ nữ bị ung thư, có tám người đã được điều trị bằng ABVD, và ba người được cho một loại thuốc kết hợp mạnh hơn có khả năng gây ra vô sinh.
Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng những phụ nữ điều trị bằng ABDV có tỷ lệ trứng có khả năng sinh sản ở buồng trứng cao hơn từ hai đến bốn lần so với những phụ nữ khoẻ mạnh, trong khi những phụ nữ được điều trị bằng một loại thuốc kết hợp mạnh hơn thì ít hơn. "Đây là điều đáng chú ý và hoàn toàn bất ngờ đối với chúng tôi. Các mô [buồng trứng] dường như đã hình thành trứng mới," Telfer ghi chú trong một báo cáo từ The Guardian. Bà đã báo cáo rằng những quả trứng của những bệnh nhân được điều trị bằng ABVD cũng xuất hiện "trẻ hơn", giống như những quả trứng được thấy ở trẻ trước tuổi dậy thì so với những con ở người trưởng thành.
NHIỀU CÂU HỎI HƠN LÀ CÂU TRẢ LỜI
Nghiên cứu của Telfer cho thấy rằng ABDV thực sự có thể kích thích buồng trứng của phụ nữ phát triển trứng mới, nhưng cô và các đồng nghiệp của cô nhanh chóng thêm rằng họ vẫn còn một chặng đường dài để hiểu rõ hơn về quá trình nghiên cứu.
"Có rất nhiều điều chúng ta không biết về buồng trứng," cô nói. "Chúng ta phải thận trọng khi nhảy vào các ứng dụng lâm sàng."
Các giải thích có tiềm năng khác tồn tại đối với sự gia tăng mật độ của trứng có khả năng sinh sản. Các trứng được thêm vào có thể ở trong buồng trứng toàn bộ thời gian, nhưng phương pháp tạo ra chúng làm tăng diện tích bề mặt. ABDV cũng có thể làm cho các nang trứng có sẵn bị chia làm đôi, dường như tăng gấp đôi số lượng trứng.
Nếu ABDV được xác nhận là tạo ra trứng mới và có khả năng sinh sản, tuy nhiên, khám phá này sẽ thay đổi rất nhiều điều mà chúng ta nghĩ rằng chúng ta biết về khả năng sinh sản của phụ nữ. Cho đến bây giờ, số lượng trứng có khả năng sinh sản có hạn là hạn chế chính đối với tuổi thọ sinh sản của phụ nữ và lý do phụ nữ được cho là có một "đồng hồ sinh học". Nó có thể dẫn đến việc khám phá ra cách điều trị các vấn đề vô sinh ở phụ nữ trẻ hoặc thậm chí là cách cho phụ nữ lớn tuổi, sau mãn kinh có con.
Những khám phá mới như những phát hiện trong nghiên cứu của Tefler là những lời nhắc nhở liên tục về sự hiểu biết về sinh học con người và “sự hiểu biết” hạn hẹp của chúng ta là không thay đổi.
Lê Cao Ý Nhi
Theo Jess Vilvestre, Futurism
Tóm lược: Các nhà nghiên cứu đã sử dụng CRISPR để nhắm vào mục tiêu "trung tâm chỉ huy" ung thư ở chuột, tăng tỷ lệ sống sót...
Tóm lược: Các nhà nghiên cứu đã sử dụng CRISPR để nhắm vào mục tiêu "trung tâm chỉ huy" ung thư ở chuột, tăng tỷ lệ sống sót từ 0% đến 100% và giảm khối u ác tính mà không gây tổn hại cho các tế bào khỏe mạnh.
Tiếp theo, các nhà khoa học sẽ kiểm tra xem nó có thể quét sạch hoàn toàn tế bào ung thư ra không.
ĐIỀU KIỆN CRISPR
Những tháng gần đây đã có không ít những điều đáng kinh ngạc về công cụ chỉnh sửa gen CRISPR. Vào tháng 9 năm 2016, các nhà nghiên cứu Đức đã phát hiện ra một cách sử dụng CRISPR để khắc phục những đột biến gây ung thư. Vào tháng 11, các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã sử dụng công nghệ CRISPR lần đầu tiên trên một con người. Sau đó, vào tháng Giêng năm sau, các nhà nghiên cứu phát hiện ra hai loại protein khác nhau chống lại CRISPR, có thể dẫn đến việc “chuyển đổi” CRISPR và kiểm soát tốt hơn công cụ chỉnh sửa gen trên các đối tượng người.
Hiện nay, các nhà nghiên cứu từ Đại học Pittsburgh đã sử dụng CRISPR để chỉ ra "trung tâm chỉ huy" của ung thư, tăng tỷ lệ sống sót và giảm khối u ác tính mà không gây tổn hại đến tế bào khỏe mạnh ở chuột. Phương pháp này nhằm vào các gen hợp nhất, các đột biến phát triển khi hai gen khác biệt kết hợp thành một gen lai duy nhất - mà thường dẫn đến ung thư. Họ công bố kết quả của họ ở tờ Nature Biotechnology vào đầu tuần này.
Nhóm nghiên cứu đã cấy tế bào ung thư gan và tuyến tiền liệt của con người vào chuột và sau đó sử dụng công cụ CRISPR nhắm mục tiêu đến gen hợp nhất để điều trị chúng. Việc điều trị của nhóm đối chứng đã nhắm đến các gen lai không có trong cơ thể của chúng - làm cho nó không hiệu quả. Khối u ở chuột đối chứng tăng gần 40 lần và lan rộng ra các phần khác của cơ thể trong hầu hết các trường hợp. Không một nhóm kiểm soát nào sống sót qua giai đoạn thử nghiệm.
Việc điều trị cho nhóm thực nghiệm có mục tiêu gen hợp nhất có trong khối u của chúng, và các khối u bị co lại đến 30 % và không lan rộng. Điều ấn tượng nhất là tất cả các con vật được điều trị thử nghiệm đều sống sót sau khi kết thúc thử nghiệm - đại diện cho sự gia tăng tỷ lệ sống sót từ 0% đến 100%.
THUYÊN GIẢM – HOẶC TIÊU DIỆT?
Sự thật là các gen hợp nhất này là độc nhất về di truyền làm cho chúng trở thành một mục tiêu dễ dàng cho CRISPR, có thể nhắm mục tiêu vào chúng và thay thế chúng bằng một cái gì đó khác. Trong trường hợp này, các nhà nghiên cứu thay thế chúng bằng các gen giết chết tế bào ung thư, đảm bảo các tế bào khỏe mạnh vẫn sống tốt - mà một phương pháp hóa trị nào đó không thể làm được.
Mặc dù những kết quả ấn tượng này rất thú vị, nhưng chúng không có nghĩa là việc điều trị sẽ có hiệu quả ở người và vẫn chưa có kế hoạch thử nghiệm lâm sang nào. Trước khi việc điều trị được thực hiện trên người, các nhà nghiên cứu hy vọng sẽ cải thiện nó. Mặc dù nghiên cứu hiện tại chứng minh rằng kỹ thuật này có thể làm thuyên giảm các tế bào ung thư, nhưng các nhà khoa học vẫn muốn kiểm tra xem nó có thể loại bỏ hoàn toàn ung thư ra không.
Jian-Hua Luo, tác giả chính của nghiên cứu, cho biết: "Đây là lần đầu tiên việc chỉnh sửa gen được sử dụng để xác định cụ thể các gen hợp nhất của ung thư. "Nó thực sự thú vị bởi vì nó đặt nền móng cho những gì có thể trở thành một cách tiếp cận hoàn toàn mới để điều trị ung thư. Các loại điều trị ung thư khác nhắm vào những người lính bộ binh. Cách tiếp cận của chúng tôi là nhắm mục tiêu trung tâm chỉ huy, do đó không có cơ hội để quân đội của đối phương tập trung lại trong trận chiến trở lại. "
Hiếu Minh
Theo New Atlas, Nature Biotechnology, University of Pittsburgh
Honda giờ đây là một trong những tập đoàn hùng mạnh nhất nước Nhật và nổi tiếng trên toàn thế giới. Để đạt được thành công đó có đ...
Honda giờ đây là một trong những tập đoàn hùng mạnh nhất nước Nhật và nổi tiếng trên toàn thế giới. Để đạt được thành công đó có đóng góp không nhỏ từ ông Soichiro Honda, người sáng lập ra thương hiệu này.
Soichiro được Tạp chí People (Mỹ) xếp vào danh sách “25 người đáng quan tâm của năm” vào năm 1980, đồng thời tôn vinh ông như một “Henry Ford của Nhật Bản” với những đóng góp tạo ra cuộc cách mạng về phương tiện giao thông cá nhân của nhân loại.
Tuy nhiên, trước khi xây dựng được sự nghiệp lừng lẫy, Soichiro đã phải gặp vô số thất bại. Ông từng chia sẻ rằng, "Đối với tôi, thành công chỉ đạt được khi đã trải qua nhiều thất bại và nghiền ngẫm. Trên thực tế, trong tất cả những việc ta làm, thành công chỉ chiếm 1%, 99% khác là thất bại."
Bài viết này sẽ kể về một trong những thất bại của ông Soichiro Honda.
Ông Soichiro Honda-Nhà sáng lập tập đoàn Honda
Thời thơ ấu và tuổi trẻ
Soichiro Honda sinh ngày 17/11/ 1906 tại Yamahigashi, làng Komyo (nay là Tenryu), hạt Iwata thuộc Shizuoka Prefecture ( Nhật Bản). Cha của Honda, ông Ghihei là một thợ rèn.
Khi còn nhỏ, Shoichiro luôn quanh quẩn bên bố, xem ông làm việc và qua đó ông đã học được cách tự làm đồ chơi cho mình. Tài sản mà Soichiro được thừa kế từ cha chính là lòng yêu thích nghề cơ khí.
Năm 1922, Soichiro cùng cha đi lên Tokyo sau khi xem một quảng cáo tìm người giúp việc được đăng trên tờ báo thương mại. Nơi họ đến là một cửa hàng sửa chữa ô tô có tên là Art Shokai. Lý do lớn nhất để cậu bé Soichiro 15 tuổi muốn làm việc ở đây chính là có cơ hội được tiếp xúc gần gũi với những chiếc ô tô.
Thời gian đầu, công việc của Soichiro là nội trợ và trông trẻ cho gia đình ông chủ. Buổi tối khi đã làm xong hết công việc, Soichiro thường trốn vào trong xưởng để được ngắm những chiếc ô tô. Cậu bé không hài lòng với công việc của mình và thậm chí còn nghĩ sẽ từ bỏ để trở về nhà. Chính lúc này, Sochiro Honda được ông Hikoji Kitazama, người giám sát trực tiếp động viên, giúp đỡ. Hàng ngày sau khi hoàn tất mọi công việc, Sochiro được phép đi tới cửa hiệu thứ hai của Art Shokai nơi mà một chiếc xe ô tô đua đang được làm tại đó.
Năm 1923, sau khi cứu 3 chiếc xe đua của hãng khỏi một đám cháy, Sochiro được giao việc trở thành thợ chính, giúp thiết kế xe đua. Năm 1924, chiếc xe Curtiss do Sochiro làm thợ kỹ thuật đã giành giải nhất tại cuộc đua tổ chức ở Tsurumi thuộc Kanagawaken. Chàng trai trẻ vô cùng vui sướng và chiến thắng này là bước khởi đầu cho niềm đam mê xe đua của Soichiro.
Sau 5 năm học việc tại cửa hàng Art Shokai và 1 năm chứng minh khả năng với ông chủ, cuối cùng Soichiro đã được phép tự mở chi nhánh Art Shokai ở làng của mình tại Hamamatsu. Lúc đó Soichiro vừa tròn 21 tuổi.
Chiếc xe được Honda chế tạo tại xưởng Hamamatsu Art Shokai.
Chuyện những chiếc séc măng thất bại
Mặc dù công việc kinh doanh đang trong thời kỳ phát đạt, cửa hàng ngày càng được mở rộng nhưng Soichiro vẫn không hài lòng. Thiếu những khó khăn thử thách Soichiro cảm thấy bứt rứt, buồn bực không yên. Soichiro muốn làm một cái gì đó hơn là chỉ sửa chữa đơn thuần.Từ đó, Soichiro bắt đầu suy nghĩ đến việc kinh doanh sản xuất.
Điều đầu tiên thu hút sự chú ý của ông là những chiếc séc măng (piston ring). Séc măng dường như là một chi tiết hoàn hảo, nhỏ nhưng rất đắt. Và thế là, Soichiro nhanh chóng xây dựng kế hoạch để tiến hành sản xuất hàng loạt. Ông thuê nhà xưởng tại thị trấn Yamashita của thành phố Hamamatsu và mở “Phòng nghiên cứu sản xuất séc măng Art Shokai".
Ban Giám đốc của Art Shokai kịch liệt phản đối ý tưởng này của ông và họ không cấp vốn cho ông. Soichiro cảm thấy rất chán nản sau khi giấc mơ của mình bị dập tắt, do vậy ông đã bị đau dây thần kinh vùng đầu và sau đó đau lưng nặng. Trong suốt gần hai tháng Soichiro phải nghỉ ở nhà chữa bệnh, nhưng ngay cả trong lúc khó khăn đó ông cũng vẫn luôn bị ám ảnh bởi việc phát triển chế tạo séc măng. Ông không bao giờ bỏ qua mơ ước của mình và luôn chuẩn bị sẵn sàng cho những thử thách mới.
Năm 30 tuổi, dù đã là Chủ tịch công ty do ông thành lập nhưng Soichiro vẫn quyết định phải trở lại trường học. Người ta khá ngạc nhiên khi thấy một người lớn tuổi ở trong lớp học. Ngoài giờ lên lớp, Soichiro giành hết thời gian ở trong phòng thí nghiệm, thậm chí Soichiro ăn ngay ở phòng thí nghiệm vào những lúc trái khoáy, không cạo râu và để đầu tóc rối bời nhưng ông không để ý đến các điều đó, ông chỉ quan tâm đến một vấn đề là chiếc séc măng.
Soichiro Honda từng vô cùng nỗ lực nhưng vẫn bị Toyota từ chối sản phẩm séc măng.
Năm 1936, Soichiro tham gia một cuộc đua và gặp tại nạn thảm khốc. Ông bị gãy xương bả vai và bị thương nặng ở mặt. Trong bệnh viện, ông không ngừng nghĩ về công việc kinh doanh của mình. Một tuần sau ông ra viện, bị thương nặng, tiền tiết kiệm thì hết và công việc kinh doanh chế tạo séc măng sụp đổ. Gia đình Soichiro rơi vào một hoàn cảnh cực kỳ khó khăn. Vợ của ông cùng với con nhỏ phải đem cầm cố những đồ vật có giá trị của họ.
Một hôm, Soichiro chọn 50 chiếc séc măng trong số 30.000 chiếc ông đã làm và giao cho Toyoda Jido Shokki. Sau đó, được biết là chỉ có ba chiếc qua được vòng thử nghiệm của Toyota, ông rất tức giận. Ông cố kìm nén cơn tức giận một cách khó khăn và quyết định chuyển sang đối mặt với thử thách mới. Năm 1939, Soichiro thôi làm quản lý cửa hàng Art Shokai Hamamatsu, chuyển đến Sueo Kawashima trở thành Chủ tịch của Tokai Seiki Jyukogyo.
Sau hai năm học ở trường Hamamatsu, do không tham dự kỳ thi nên Soichiro bị buộc phải thôi học. Tuy nhiên, ông đi học chỉ là để có được những kiến thức cần thiết nhằm đạt được mục đích của mình và thành quả của ông được mọi người công nhận. Sau khi bị đuổi khỏi trường, ông đến trường đại học Tohoku Imperial và Nihon Muoran Seisakusho để học thêm những kiến thức khác.
Được trợ giúp bởi những điều học được ở trường, Soichiro đã phát minh ra nhiều thứ và có được rất nhiều bằng sáng chế. Một trong những phát minh đó là máy đánh bóng séc măng. Chiếc máy đó quả là một sự thay đổi to lớn và rất đơn giản trong khi sử dụng. Sau 3 năm thử nghiệm và thất bại, khi sự kiên nhẫn của ông đã đến giới hạn, thì cuối cùng sự huyền bí được khám phá và Soichiro đã có thể làm được những chiếc séc măng tuyệt vời. Những ngày tháng đó là những ngày khó khăn nhất trong cuộc đời của Soichiro. Tuy nhiên, chính từ những kinh nghiệm này, công ty Honda ngày nay đã ra đời.
Theo Brand Vietnam, Wiki và tiểu sử của ông Soichiro Honda
Tóm tắt: Các bác sĩ tại Bệnh viện Nhi đồng Philadelphia đã làm việc với những con cừu 23 tuần để kiểm tra một thiết bị tổng hợp bắt chướ...
Tóm tắt:
Các bác sĩ tại Bệnh viện Nhi đồng Philadelphia đã làm việc với những con cừu 23 tuần để kiểm tra một thiết bị tổng hợp bắt chước tử cung của phụ nữ, hy vọng hạn chế tử vong và bệnh tật ở trẻ sinh non sinh ra trước 37 tuần.
TỬ CUNG NHÂN TAỌ
Tạo ra một tử cung nhân tạo sẽ là một kỳ công, vì sinh non là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu cho trẻ sơ sinh. Và tuần này, các bác sĩ tại Philadelphia đã có những bước tiến quan trọng hướng đến một thế giới nơi mà tử cung tổng hợp trở thành hiện thực. Trong khi nghiên cứu đang được phát triển tạo nên không hoàn toàn là một cái tử cung nhân tạo, các bác sĩ đã tạo ra một "biobag" tử cung có khả năng nuôi con non rất sớm ngay sau khi chúng bắt đầu phát triển.
Trước khi chờ đợi quá lâu, các công nghệ tương tự có thể được sử dụng trên người.
Cuối cùng, những con cừu được đặt trong các biobags trong suốt 105 ngày sau khi chúng bắt đầu phát triển, tương đương với khoảng 22 tuần phát triển con người. Vào thời điểm đó trong sự phát triển của chúng, không phải con cừu hay trẻ sơ sinh nào cũng có thể sống sót ngoài tử cung một mình.
Các con cừu được giữ trong các biobags trong bốn tuần. Trong thời gian này, chúng đã phát triển tóc; phổi; Và chúng đã đạt đến điểm mà chúng có thể sống sót một mình.
Đáng chú ý, tám con cừu trong thử nghiệm phát triển bình thường trong tử cung nhân tạo và đều sống sót, điều đó cho thấy rằng biobags đã mô phỏng thành công các điều kiện tự nhiên tìm thấy trong tử cung và mở đường cho một thiết bị cứu sinh mới cho con người.
Các kết quả nghiên cứu của họ đã được công bố trong tạp chí Nature Communications.
MỘT CUỘC CÁCH MẠNG VỀ SINH NỞ
Cuối cùng, trẻ sơ sinh được coi là trẻ sinh non khi sinh trước 37 tuần phát triển. Trên toàn cầu, hàng triệu trẻ sơ sinh sinh non mỗi năm. Điều này đưa chúng đến một loạt các bệnh mãn tính, vì phổi và não của chúng vẫn đang trong giai đoạn phát triển rất sớm.
Mặc dù các liệu pháp hiện tại được tiến hành là ủ dưỡng trẻ sinh non, thiết bị mới này có thể làm tốt hơn bằng cách cho phép chúng hoàn thành sự phát triển trong điều kiện tự nhiên.
Mặc dù bao sinh học không thể phát triển được một đứa trẻ trong suốt chín tháng, nhưng nó có thể cho phép chúng ta ủ ấm chúng ngay sau khi thụ thai. Nhóm bác sĩ đã thảo luận với Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) và các thử nghiệm lâm sàng dự kiến sẽ bắt đầu trong 3 đến 5 năm tới.
Tử cung nhân tạo
Theo tiến trình này, các chuyên gia khẳng định rằng tử cung nhân tạo có thể đưa vào hiện thực trong vài thập kỷ tới.
Hoài Thu
Theo MIT Technology Review, Nature, March Of Dimes và Futurism
Image credit: CNS Tóm tắt: Trong một thí nghiệm gây sốc, các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã ghép đầu một con chuột nhỏ vào một con chuột...
Tóm tắt:
Trong một thí nghiệm gây sốc, các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã ghép đầu một con chuột nhỏ vào một con chuột khác lớn hơn trong khi giữ cho não an toàn khỏi những tổn thương có thể xảy ra do mất máu. Một ngày nào đó kỹ thuật của họ có thể hữu ích cho việc cấy ghép người.
Không tổn thương não do mất máu
Không phải là ngày nào bạn cũng nghe về việc cấy ghép một cái - đầu - sống, nhưng thật sự có một điều như vậy. Trên thực tế, nghiên cứu về những cấy ghép đầu đã được tiến hành trong một khoảng thời gian, với những thí nghiệm động - vật – hai - đầu đầu tiên được biết đến từ những năm 1900 và những năm 1950.
Bây giờ, các nhà khoa học từ Trung Quốc đã có một bước đột phá đáng chú ý trong việc cấy ghép đầu của một cá thể vào một cá thể khác.
Đối với công việc này, họ lấy đầu của một con chuột nhỏ và gắn nó vào một con chuột lớn hơn, tạo ra một con - chuột – hai – đầu. Điều quan trọng cần lưu ý là chuột đã không sống được lâu. Nhóm nghiên cứu biết con chuột không sống lâu, vì vẫn còn rất nhiều vấn đề kỹ thuật và khoa học cần được giải quyết trước khi chúng ta có thể thực hiện thành công việc cấy ghép các sinh vật sống và giúp chúng sống.
Tuy nhiên, đây là một bước tiến đáng kinh ngạc trong việc thực hiện cấy ghép đầu có thể giúp bác sĩ tránh bất kỳ tổn thương não do mất máu trong quá trình gắn đầu của người hiến tặng.
Mục đích của thử nghiệm đặc biệt này đơn giản là: các nhà khoa học muốn biết liệu họ có thể ghép đầu thành công mà không làm tổn thương não do mất máu quá nhiều hay không. Và họ đã làm. Để làm được điều này, họ phải giữ cho máu lưu thông trong quá trình cấy ghép bằng cách gắn các mạch máu của con chuột cho đầu vào con chuột kia.
"Chúng tôi đã phát triển mô hình hai đầu của việc cấy ghép đầu để nghiên cứu những khía cạnh này", các nhà khoa học cho biết trong bài báo đăng trên tạp chí CNS Neuroscience and Therapeutics.
Một cái đầu có thể xoay được.
Ý tưởng này là có thể tạo ra cái đầu có thể xoay được - và có thể lắc qua lắc lại được, đối với một số nhà khoa học khẳng định rằng việc cấy ghép đầu rất đáng để khám phá, vì nó có thể giúp hàng triệu người trên toàn thế giới đang bị các vấn đề về cơ và thần kinh. Nó cũng có thể cho phép chúng ta lấy đầu một người bị ung thư tử vong và cấy ghép nó vào một cơ thể khỏe mạnh của con người.
Có thể hiểu được, có một số vấn đề cần được giải quyết trước khi có thể cấy ghép đầu người. Ví dụ, ngoài việc đảm bảo não không bị tổn thương do mất máu trong quá trình cấy ghép, có một số mối quan tâm khác, chẳng hạn như sự từ chối bởi hệ thống miễn dịch.
Kết quả từ thí nghiệm cấy ghép
Dù vậy, ghép đầu vào người khác trong khi giữ cho não an toàn khỏi những tổn thương liên quan đến mất máu chắc chắn là một bước tiến tích cực cho việc phát triển các phương tiện hữu hiệu để tiến hành cấy ghép đầu người.
Tuy nhiên, một số chuyên gia khẳng định rằng các vấn đề liên quan đến cấy ghép đầu người vượt ra ngoài những mối quan tâm của khoa học - kỹ thuật và liên quan đến bản chất tâm lý cơ bản của con người.
Arthur Caplan, giám đốc sáng lập Phòng Y đức của NYULMC (New York University Langone Medical Center), trước đây nói với Futurism rất rõ rằng, với phương thức như vậy, một người có thể bị ảnh hưởng chưa từng thấy của chứng điên cuồng.
Trong khi một số tuyên bố đã thực hiện thành công phương thức này, thì không có bằng chứng rõ ràng để hỗ trợ các tuyên bố đó.
Trong bất kỳ trường hợp nào, nếu chúng ta thành công một quy trình như vậy ở tương lai, hầu hết nghiên cứu hiện tại sẽ cung cấp một phần quan trọng của câu đố này. Như lưu ý trong bài tóm tắt của các nhà nghiên cứu, "Việc áp dụng ghép mạch cũng có thể cung cấp khả năng sống sót lâu dài cho mô hình này."
Trâm Anh
Theo Motherboard, CNS Neuroscience and Therapeutics, Futurism
Tóm tắt: Các nhà nghiên cứu ở Anh đang chờ phê duyệt cho một đề xuất nghiên cứu gây trên cãi đó là “biến đổi phôi di truyền ở người”. C...
Tóm tắt:
Các nhà nghiên cứu ở Anh đang chờ phê duyệt cho một đề xuất nghiên cứu gây trên cãi đó là “biến đổi phôi di truyền ở người”.
Các bước đầu tiên của nghiên cứu mới:
Một nhóm nhà nghiên cứu ở Anh đang sẵn sàng tạo ra phôi người biến đổi gen đầu tiên của Quốc gia họ. Cùng chung chí hướng trên con đường nghiên cứu của họ là một cơ quan quản lý độc lập được gọi là Cơ quan Chế tạo Sinh học Con người (HFEA).
Kathy Niakan, lãnh đạo của nhóm nghiên cứu ở Viện Francis Crick tại London, đang tìm cách nghiên cứu các giai đoạn đầu tiên của sự phát triển phôi thai. Hiện tại, cộng đồng khoa học chỉ hiểu được rất ít về lý do tại sao một số người mang thai rất nhiều lần và sinh con thành công còn ở một số người khác lại bị sẩy thai.
Theo như luật pháp ở Anh, việc biến đổi gen của phôi người và nó sống lâu hơn hai tuần hoặc cấy vào tử cung là bất hợp pháp. Đáng chú ý, các nhà nghiên cứu luôn tìm kiếm sự cho phép của hoạt động này trong phạm vi pháp lý này, họ cho biết sẽ không để phôi phát triển hơn bảy ngày.
Điều này nói lên rằng, nghiên cứu này là bước đầu tiên đáng chú ý trong sự biến đổi di truyền của con người, là công trình có thể được sử dụng để cải thiện nhân loại.
Nếu đề xuất của họ được chấp thuận, họ có thể sử dụng phôi thừa từ các phương pháp điều trị IVF, miễn là cha mẹ của phôi cho phép. Các nhà nghiên cứu sẽ sử dụng CRISPR, một công nghệ chỉnh sửa gen phức tạp để loại bỏ tối đa bốn gen khác nhau trong phôi.
Các theo dõi tiếp theo của nghiên cứu có thể cho chúng ta biết những điều quan trọng của con người vào giai đoạn phát triển đầu tiên.
Đây là một video hữu ích cho biết CRISPR hoạt động như thế nào:
Tại sao có những điều lệ này:
Niakan nói trong một bài báo của The Guardian: “Những tình huống dị tật và vô sinh ở người là những điều rất phổ biến nhưng vẫn chưa ai biết được chính xác tại sao. Bạn sẽ không bao giờ có thể dự đoán được nghiên cứu sẽ dẫn chúng ta đến đâu nhưng chúng tôi hy vọng nó sẽ là một nghiên cứu có ích cho các phương pháp điều trị cho vấn đề sinh sản trong thời gian tới”.
Mặc dù quá trình này sẽ liên quan đến việc chỉnh sửa bộ gen của phôi, nhưng các nhà nghiên cứu sẽ không công bố bất cứ tài liệu di truyền mới nào. Điều này có nghĩa là những nỗi sợ hãi về việc chế tạo em bé siêu nhân, hoặc người lai điều sẽ không được tìm thấy trong nghiên cứu này, ít nhất là liên quan đến đề xuất cụ thể này.
Tuy nhiên, nhiều người lo sợ rằng những hình thức tương đối khiêm tốn này của gen giả mạo con người khiến chúng ta rơi vào tình trạng nguy hiểm mất cân bằng. Các nhà khoa học đã nghiêm túc cảnh báo về việc biến đổi gen bất kỳ nào mang đặc tính di truyền của con người.
Một số người dường như đã nhìn thấy những điều gì đó bất chính trong công việc của Niakan và nhóm của cô.
David King, giám đốc của Human Genetics Alert tại The Independent, cho biết: “Đây là bước đầu tiên trên con đường mà các nhà khoa học đã vạch ra một cách cẩn thận về việc hợp pháp hóa các con GM. Mặc dù chúng tôi luôn nói rằng HFEA luôn ở đó để đảm bảo rằng không có điều gì vượt qua các đường lối đạo đức, nhưng thực tế, HFEA tồn tại chính là để quản lý và tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi phôi này cùng tiến độ tiến hành nghiên cứu”.
Nhưng đối với những người thay mặt đấu tranh cho người vô sinh, nghiên cứu phôi thai này sẽ mở ra con đường mang đầy kì tích trong cuộc sống.
Như Sarah Norcross ở Progress Educational Trust quan sát, “Đây là một phần quan trọng của nghiên cứu khoa học cơ bản. Sẩy thai liên tục ảnh hưởng đến số lượng lớn người dân và điều đó không phải ai cũng hiểu. Mọi người chỉ cần nói và thử lại. Để nâng cao hiểu biết của chúng ta về vấn đề biến đổi di truyền của phôi thai có ảnh hưởng thế nào với con người, để thấy được đây là một nghiên cứu có giá trị của loài người”.
Nếu đề xuất của nhóm nghiên cứu được HFEA chấp thuận, một ủy ban đạo đức riêng biệt cũng sẽ phải kí kết. Giả sử đề xuất này được đánh giá là ánh sáng xanh thì Niakan và đội của cô sẽ là nhóm thứ hai trong lịch sử biến đổi gen đối với phôi thai ở người.
Follow Us
Science knows no country, because knowledge belongs to humanity, and is the torch which illuminates the world. *Louis Pasteur*